Áo trực lĩnh

(đổi hướng từ Áo giao lĩnh)
Hương cống Nguyễn Quý Kính mặc Trực lĩnh đại khâm 5 thân

Trong trang phục Việt Nam, "trực lĩnh" (Hán tự 直領) (cổ áo thẳng) là tên gọi chung cho đa số các áo thời Hậu Lê. Danh từ này thường được sử dụng trong các tài liệu lịch sử, văn hóa thế kỉ XVII - XVIII. Ngoài ra còn có đoàn lĩnh (cổ áo tròn)

Từ nguyênSửa đổi

"Trực" 直 là thẳng. "Lĩnh" 領 các từ điển cổ chú dịch là "cảnh" (頸) hoặc "hạng" (項), đều có nghĩa là phần cổ, trường hợp này hiểu là cổ áo. Trong các sách cổ Việt Nam, "lĩnh" được dịch Nôm là "tràng"(長), ví dụ sách Tam thiên tự: Y - áo: 衣-袄; Lĩnh-tràng 領-長.[1]

 
Thái phó Nguyễn Quý Đức 阮貴德 mặc Bù Long

Danh từ "Trực lĩnh" xuất hiện rất sớm, từ điển Thích Danh thời Đông Hán[2] định nghĩa: “Trực lĩnh, lĩnh tà trực nhi giao hạ, diệc như trượng phu phục bào phương dã". Nguyên văn: "直領,領邪直而交下,亦如丈夫服袍方也". Sách Ngàn năm áo mũ dẫn vế đầu và dịch là: “Trực lĩnh, cổ áo chếch thẳng xuống, giao nhau ở phía dưới".[3] Vế sau so sánh với vạt cả vuông trên áo đàn ông thời nhà Hán. Chữ "bào" (袍) nguyên là "bão" (袌), nghĩa là vạt cả.  Từ "vạt cả" thường để chỉ cả tấm lớn phía ngoài của thân trước áo (gồm hai thân) hoặc để chỉ riêng chỉ thân thứ 5 ghép thêm vào tạo thành vạt ngoài. Vạt cả là bộ phận quan trọng giúp phân biệt các dạng trực lĩnh. Ba dạng trực lĩnh thường gặp là "Bù Long" (Hán tự đối khâm - 對襟, 4 thân và không có vạt cả), "Tràng Vạt" (Hán tự giao lĩnh - 交領, 5 hoặc 6 thân và có vạt cả) và áo cổ thìa (5 hoặc 6 thân, có vạt cả nhưng buộc gút giữa). Khang Hy tự điển chú thích "bão" là "y chi đại khâm"[4], nghĩa là vạt cả của áo. Thuyết văn giải tự chú có phần mục từ "cư" như sau[5]:

"(裾)衣袌也。袌各本作袍。今依韵會正。上文云袌、褱也。褱物謂之袌。因之衣前䘳謂之袌。方言。襌衣有袌者。趙魏之間謂之袏衣。郭云。前施袌囊也。房報切。按前施袌囊卽謂右外䘳。方言。無袌者謂之裎衣。則今之對䘳衣。無右外䘳者也。褻衣無袌。禮服必有袌。上文之袥、衸謂無袌者。唐、宋人所謂衩衣也。公羊傳曰。反袂拭面。涕沾袍。此袍當作袌。何注曰。衣前襟也。釋器。衣皆謂之襟。衱謂之裾。衱同袷。謂交領。袌連於交領。故曰衱謂之裾。"

Phiên âm:

"Cư, y bão dã. Bão các bản tác bào, kim y vận hội chính. Thượng Văn vân: bão, hoài dã, hoài vật vị chi bão. Nhân chi y tiền khâm vị chi bão. Phương Ngôn, đơn y hữu bão giả, Triệu Ngụy chi gian vị chi tá y. Quách vân: tiền thi bão nang dã, phòng báo thiết. Án tiền thi bão nang tức vị hữu ngoại khâm. Phương Ngôn: vô bão giả vị chi trình y, tắc kim chi đối khâm y, vô hữu ngoại khâm giả dã. Tiết y vô bão, lễ phục tất hữu bão. Thượng Văn chi tá, giới vị vô bão giả. Đường, Tống nhân sở vị xái y dã. Công Dương truyện viết: phản mệ thức diện, thế triêm bào, thử bào đương tác bão. Hà chú viết: y tiền khâm dã. Thích Khí: y giai vị chi khâm, cực vị chi cư. Cực đồng giáp/hợp, vị giao lĩnh, bão liên vu giao lĩnh, cố viết cực vị chi cư 。"

Tạm dịch:

"Cư là "bão" áo. "Bão"(袌) các bản viết "bào" (袍), nay theo vần hội chính. Thượng Văn rằng: "bão", là bọc gói vật. Nhân đó mà vạt trước của áo gọi là "bão". Phương Ngôn: "đơn y" có "bão", thời Triệu Ngụy gọi là "tá y". Quách rằng: "bão" là "tiền thi bão nang". Xét thì thấy "tiền thi bão nang" tức là vạt phủ ngoài bên phải. Phương Ngôn: không có "bão" gọi là "trình y", tức "đối khâm y" ngày nay, không có vạt phủ ngoài bên phải. Áo lót trong không có "bão", lễ phục ắt có "bão". Trong Thượng Văn, hai chữ "tá", "giới" bình nghĩa rằng không có "bão". Người Đường, Tống gọi là "xái y". Công Dương Truyện rằng: biệt nhau lau mặt, nước mắt đẫm "bào", "bào" này đáng lẽ viết là "bão". Hà chú rằng: là vạt trước áo. Thích Khí viết: áo đều gọi là vạt, "cực" còn gọi là "cư". "Cực" với "giáp/hợp" như nhau, là cổ chéo, "bão" liền nối với cổ chéo nên "cực" cũng gọi là "cư".

Dựa theo miêu tả của các tài liệu xưa, những áo ghép thêm vạt cả mới được coi là Tràng Vạt, không ghép thêm vạt cả thì không thể là Tràng Vạt mà gọi là đối khâm, tức áo Bù Long hoặc loại áo cổ thìa. Ngoài việc phải ghép thêm vạt ra thì còn một điều kiện nữa để được coi là Tràng Vạt đó là thân ghép thêm phải đóng góp vào việc tạo hình cho tràng áo, nếu vạt ghép thêm không tạo được tràng xiên đặc trưng (tràng xiên, đồng thời buộc gút nách, không có gút nách không tính là "đại khâm"[6] tràng xiên, không có vạt cả tràng xiên không phải Tràng Vạt) thì chưa thể coi là Tràng Vạt.

Từ điển Việt cổ của Nguyễn Ngọc San giải nghĩa: Hộ Lĩnh (护領 - 護領) buộc che ngoài tràng (Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa). Hộ lĩnh là dải vải may đè lên tràng, áp vào mép vạt, cũng gọi là nẹp cổ, có tác dụng gia cố cho tràng áo. Thông thường tràng và hộ lĩnh may cùng màu với áo, một số trường hợp hộ lĩnh làm khác màu với áo.

Bổ long hoặc Bù long (補龍) là loại trực lĩnh 4 thân mặc chéo vạt, ôm ngực và bụng người mặc. "Bù/bổ" nghĩa là góp vào, dồn vào; "long" là nói tắt của "nương long", từ cổ nghĩa là ngực hoặc bụng[7], trong trường hợp này hiểu là ngực. Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa: "Hung ức giữa ngực, hung đường giữa nương"[8]

Phân loại theo cấu tạoSửa đổi

 
Nhụ nhân Minh Nhẫn mặc áo cổ thìa thêu 6 thân. Hạ y là thường thêu và vi quần bạch sắc dệt. Bà cầm quạt tựa vào ẩn nang

Trực lĩnh phân làm hai loại,có vạt cả (đại khâm) và không vạt cả (đối khâm)

Trong nhóm trực lĩnh đại khâm,loại buộc gút nách là Tràng Vạt (長拔) ("giao lĩnh", "áo tràng xiên"). Loại không buộc gút nách được một số nhà nghiên cứu gọi là "áo cổ thìa" hoặc "áo cổ xẻ giữa"[9][10] Dạng áo cổ thìa, cổ xẻ giữa có 5 hoặc 6 thân, tương tự như Tràng Vạt nhưng khác ở chỗ gút buộc dấu dưới vạt áo, gần vị trí mỏ ác của người mặc.[9]

Trực lĩnh đối khâm có tên cổ trong thế kỉ XVII - XVIII là Bù Long (âm Nôm của: Bổ Long 補龍), trước thế kỉ XVII gọi là Tỉnh Khẩu (井口). Dựa vào các tài liệu cổ và hiện vật khai quật từ các mộ hợp chất nhận thấy trực lĩnh đối khâm ở Việt Nam có phương pháp may và mặc khác so với Á Đông. Người Việt Mặc áo Bù Long chéo vạt che nương như dạng yukata của nữ giới Nhật Bản và rất có thể đã may chúng dồn vạt, dồn tà phía trước tương tự như cách dồn tà của các áo hợp lĩnh đơn sam dùng cho nam giới nhà Tống bên Trung Quốc.

Đặc điểmSửa đổi

Không xẻ tà hoặc xẻ tà rất thấp[3]

Dạng lễ phục bắt buộc phải có ống tay thụng dài[11]

Dạng Bổ Long mặc chéo vạt che nương[8]

Nam quần nữ xống[12]

Trực lĩnh trong các tài liệu cổ Việt NamSửa đổi

 
Tể tướng Nguyễn Quán Nho mặc Tràng Vạt, đội yến vĩ mạo, tay cầm quạt

Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn:

"Mùa xuân năm Bính Dần, đặt trấn phủ Nha môn ở Thuận Hóa. Bắt đầu từ tháng 7, tuyên dụ rõ rằng: Y phục bản quốc có chế độ riêng, địa phương này trước đây cũng tuân theo quốc tục. Nay cung vâng Thượng đức, dẹp yên biên phương, trong ngoài thống nhất, chính trị và phong tục cũng nên như một. Các loại quần áo kiểu Khách còn thấy phải đổi theo quy chế quốc tục (...) Đàn ông, đàn bà mặc áo trực lĩnh ngắn tay, ống tay áo rộng hẹp cho được tùy tiện. Áo thì từ hai bên nách trở xuống đều nên may khép lại, không được để mở, không được chiết eo. Riêng đàn ông nếu muốn mặc áo cổ tròn hẹp tay để tiện làm việc cũng được. Lễ phục dùng áo trực lĩnh ống tay dài, hoặc may bằng vải Thanh Cát, hoặc vải thâm, hoặc vải trắng tùy nghi"

Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức:trước năm 1744 khi chúa Nguyễn Phúc Khoát ra lệnh cải cách y phục thì người Việt tại Gia Định: "vẫn tuân theo tập tục cũ của Giao Chỉ, người dân xõa tóc đi chân đất, nam nữ đều dùng áo trực lĩnh ngắn tay, áo may khép lại hai bên nách, không có quần.Nam giới dùng một khổ vải quấn quanh eo, đến dưới mông thì bó lại thắt vào vùng rốn, gọi là khố. Nữ giới có loại váy quây không gấp nếp, đội nón lớn"

Nhật dụng thường đàm - Phạm Đình Hổ

Giao lĩnh là áo Tràng Vạt

Đối khâm là áo Bù Long.

Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa

Áo Bổ Long vận kín nương

Kẻ xưa kêu rằng là Tỉnh Khẩu y

Trực lĩnh trong các tài liệu cổ ngoại quốcSửa đổi

 
Họa phẩm sách Hoàng Thanh Chức Cống Đồ (皇清職貢圖) vị phu nhân Lê Triều mặc 3 sắc áo Bù Long để tạo 5 sắc ngũ hành, áo có thể dệt hoa diệp, hồ điệp.

Sách Hoàng Thanh Chức Cống Đồ (皇清職貢圖), có họa các quốc gia trên thế giới, trong đó có Đại Việt Thời Lê Trung Hưng. Bức họa An Nam Quốc di quan - An Nam Quốc di quan phụ Miêu tả phu nhân văn quan mặc 3 sắc áo Bù Long tạo nên y phục 5 sắc theo 5 hành. Bức họa An Nam quốc di nhân - An Nam quốc di phụ miêu tả giới trung lưu mặc áo Tràng Vạt, nam đội liên diệp lạp, nữ đang cầm hà bao (荷包) (túi dạ cá)

Nguyên vật liệu may mặcSửa đổi

Nguyên vật liệu may mặc xưa tương đối đa dạng, tùy điều kiện kinh tế mà sử dụng loại vải tương tương ứng, thường gặp có vải bông, đay, gai, gấm, lụa,... các loại vải mỏng có sa, the, lĩnh, đoạn, đũi,...

Theo các thư tịch Trung quốc, ở xứ An Nam có loại vải tơ chuối, nhẹ, đẹp, màu sắc vàng óng, mặc mát nhưng dễ rách, gọi là Tiêu Cát. Loại vải này ngày nay thất truyền. Ở một số vùng thuộc Nhật Bản, Philipin cũng có loại vải sử dụng tơ chuối dệt thành.

Màu sắcSửa đổi

Các loại vải vóc xưa nhuộm màu theo phương pháp tự nhiên, lấy lá, củ, thân cây,... trên rừng về làm chất nhuộm. Vải vóc được nhuộm qua nhiều lần nước, mỗi lần màu lên một đậm. Đầu tiên phải chặt nhỏ các loại củ, vỏ cây cho vào nước đun, thường gia thêm tro bếp để lên màu và cầm màu. Vải sau đó được nhúng vào nước nhuộm rồi đem phơi, gần khô lại nhúng vào nước nhuộm lần nữa, sau đó lại đem phơi. Các màu thường gặp là nâu, đen, chàm, trắng.

Màu vàng cam trên áo cà sa của sư tăng nhuộm bằng gỗ mít

Màu đen/huyền nhuộm bằng cách chít bùn hoặc dùng lá sồng

Màu nâu lấy từ nhựa củ nâu. Vải nhuộm củ nâu rồi chít bùn ao đem phơi sẽ chuyển thành màu đen do tanin kết hợp với cacbon trong bùn ao, dân gian gọi là "vải chít bùn".[13]

Màu trắng là tơ chuội, tức tơ sống đem chuội nước sôi, đôi khi tơ chuội cũng có màu vàng mỡ gà.

Màu chàm dùng lá chàm. Màu chàm tùy độ đậm nhạt mà xưa gọi là hỏa minh hoặc vi minh, dùng rất nhiều[9]

Lễ phục dùng vải Thanh Cát, tức loại vải khi nhuộm trộn với ít hồ cho cứng. Thanh Cát có hai hạng, hạng một có màu chàm, thứ đến là hạng màu nâu.[11] Màu này được dùng làm thường phục khi được chúa Trịnh vời đến. Có thể thấy màu áo này trên các bức tượng cổ Thời Lê

Hiện vật khảo cổSửa đổi

Các dạng áo trực lĩnh được phát hiện nhiều trong các mộ hợp chất thuộc thế kỉ XVI đến XVIII:

Năm 1964, các nhà khảo cổ mở quan linh cữu Lê Dụ Tông. Quan tài có hai đáy, giữa có một lớp gạo rang dày 10 cm, đáy trên lớp gạo rang có một tấm ván mỏng trổ 7 lỗ tròn theo hình Bắc Đẩu thất tinh. Sau tấm chăn bông vỏ gấm, thi hài được liệm bởi nhiều lớp quần áo, vải liệm, gồm: 8 lớp đại liệm bằng gấm thêu hoa bạc kích thước 1,5mx5m, buộc bằng 5 đai lụa; tấm tiểu liệm bằng gấm may kép 2 lần vải; áo Hoàng bào kim tuyến thêu một con rồng lớn phía trước, phía sau và tay áo thêu nhiều rồng nhỏ; 2 áo long bào thêu rồng kim tuyến; 3 bộ vóc vàng may kép đính vào nhau thành một bộ; 3 lớp lụa kép; 3 chiếc quần bằng lụa mỏng, khố bằng vải mỏng. Các chi của thi hài xỏ tất, bao tay, hia gấm thêu lót một lớp da thuộc mỏng. Đầu kê gối bông, hai tai được nút bằng 2 viên bông bọc lụa, mặt phủ khăn gấm có thêu rồng cùng một chữ Thọ ở giữa và 4 chữ Vạn của nhà Phật ở 4 góc.

Năm 1968, mộ cổ Vân Cát được phát hiện, xác ướp nữ giới trong mộ là "Đặng thượng phụ y phu nhân Phạm Thị Nguyên Chân". Xác ướp mặc 35 chiếc áo thụng gấm có áo được thêu cả kim tuyến cầu kỳ,18 chiếc váy lụa. Hàng chục chiếc gối chèn lớn nhỏ, những vật trong sinh hoạt như quạt gấp 18 nan gỗ, túi gấm đựng 10 miếng trầu đã têm và 10 miếng cau tươi cùng thuốc lào, khăn lụa cầm tay, mũ lụa. Hầu như tất cả tình trạng nguyên vẹn.

Năm 1982, ở Hưng Yên, người ta phát hiện lăng mộ quan Đại tư đồ Trịnh Trung hầu Nguyễn Bá Khanh. Các đồ tùy táng của Đại Tư Đồ Nguyễn Bá Khanh có nhiều áo trực lĩnh, trong đó các dạng Tràng Vạt, dạng áo cổ thìa, Bù Long, áo bông trần tay chẽn,.[9][10]

Năm 2005, tại cánh đồng vườn đào Nhật Tân quận Tây Hồ, phát hiện cổ mộ xác ướp cụ ông thế kỉ XVIII. Theo các khảo cổ gia, chủ nhân mộ không phải quan lại mà chỉ là phú hộ trong xã hội. Các hiện vật tùy táng gồm áo Tràng Vạt, rất nhiều áo Bù Long, một đôi hia cao may bằng vải thô bọc lụa, một đôi găng tay, và nhiều túi gấm cánh sen, túi dạ cá đựng trầu cau, thuốc lào. Xác ướp mặc tổng cộng hai quần và hai mươi ba lớp áo[9][10]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ "Chàng" hay "tràng"; "vạt áo" hay "cổ áo?". 
  2. ^ “釋名”. 
  3. ^ a ă Ngàn Năm Áo Mũ
  4. ^ “襟”. 
  5. ^ “裾”. 
  6. ^ “大襟”. 
  7. ^ “TÌM NGHĨA CHỮ “NƯƠNG LONG” TRONG “THIÊN NAM MINH GIÁM””. 
  8. ^ a ă Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa - Trần Xuân Ngọc Lan- Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội - 1985
  9. ^ a ă â b c Trang phục triều Lê Trịnh - Trịnh Quang Vũ- Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa - 2008
  10. ^ a ă â Trang phục Thăng Long Hà Nội - Đoàn Thị Tình - Nhà xuất bản Hà Nội - 2010
  11. ^ a ă Phủ biên tạp lục
  12. ^ Lê triều chiếu lệnh thiện chính
  13. ^ “Chất nhuộm thực vật - Từ điển Nông nghiệp”.