Ăn mòn điện hóa

Ăn mòn điện hóa học hay thường gọi là ăn mòn điện hóa là hình thức ăn mòn kim loại trong đó một kim loại bị ăn mòn khi nó tiếp xúc điện với một kim loại khác với sự có mặt của chất điện li. Đây là một trong hai hình thức ăn mòn kim loại (phân loại theo cơ chế ăn mòn), hình thức kia là ăn mòn hóa học.

Một đinh sắt quấn trong dây đồng cho thấy sự ăn mòn điện hóa của sắt; dung dịch chỉ thị ferroxyl hiển thị các chỉ thị hóa học có màu của hai loại ion sắt Fe3+ và Cu2+ khuếch tán qua môi trường thạch ẩm

Cơ chếSửa đổi

Nguyên nhânSửa đổi

Các dung dịch điện li có chứa muối hoà tan nên dẫn điện tốt, bởi vậy các kim loại và hợp kim tiếp xúc với dung dịch điện li bị ăn mòn mạnh do các dòng điện hoá tăng cường, không chỉ ở bề mặt kim loại tiếp xúc với nước biển mà cả ở trong cột bê tông...

Ăn mòn điện hóa trong môi trường còn đặc trưng bằng sự xúc tác của các sinh vật bám như hầu, hà, rong, rêu... Ví dụː ở môi trường biển, đại dương, các công trình biển như cảng, dàn khoan dầu, khí..., số lượng tàu, thuyền... bằng kim loại nên bị ăn mòn điện hóa gây thiệt hại rất lớn.

Phòng tránhSửa đổi

Quy tắc chung để phòng tránh ăn mòn điện hóa là bảo vệ kim loại tránh tiếp xúc với dung dịch chất điện li hoặc sử dụng các kim loại hoạt động mạnh hơn để bảo vệ kim loại hoạt động yếu hơn. Các công nghệ để phòng, chống và giảm tác hại của ăn mòn biển chủ yếu là tạo các lớp vật liệu bảo vệ bền (hiện đã có các loại sơn cho tàu biển chịu được ăn mòn biển trên 3, 4 năm), các lớp bảo vệ đặc hiệu ở vùng "té nước", các phương pháp điện hoá với "điện cực hi sinh".

Chú thíchSửa đổi

Tham khảoSửa đổi