Mở trình đơn chính

Đắk Nông

Tỉnh của Việt Nam
(đổi hướng từ Đăk Nông)

Đắk Nông hay Đắc Nông là một tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Năm 2018, Đắk Nông là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 56 về số dân, xếp thứ 53 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 34 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 43 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với 645.400 người dân[1], số liệu kinh tế - xã hội thống kê GRDP đạt 29.227 tỉ Đồng (tương ứng với 1,2681 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 45,24 triệu đồng (tương ứng với 1.865 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,32%.[2]

Đắk Nông

Tỉnh
Draysap02.JPG
Thác Đray Sáp
Hành chính
VùngTây Nguyên
Tỉnh lỵThị xã Gia Nghĩa
Phân chia hành chính1 thị xã, 7 huyện
Chính quyền
Chủ tịch UBNDNguyễn Bốn
Chủ tịch HĐNDLê Diễn
Chánh án TANDNgô Đức Thọ
Viện trưởng VKSNDNguyễn Văn Cường
Bí thư Tỉnh ủyLê Diễn
Địa lý
Tọa độ: 12°15′25″B 107°42′06″Đ / 12,256812°B 107,701721°Đ / 12.256812; 107.701721Tọa độ: 12°15′25″B 107°42′06″Đ / 12,256812°B 107,701721°Đ / 12.256812; 107.701721
Diện tích6.509,29 km²
Dân số (1/4/2019)
Tổng cộng622.168 người [1]
Thành thị94.700 người (15,2%)
Nông thôn527.468 người (84,8%)
Mật độ97 người/km²
Dân tộcViệt, Ê-đê, Nùng, M'Nông, Tày
Khác
Mã hành chínhVN-72
Mã bưu chính64xxxx
Mã điện thoại0261
Biển số xe48
WebsiteTỉnh Đắk Nông

Tỉnh Đắk Nông được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 2004, theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đắk Lắk thành 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông.[3]

Vị trí địa lýSửa đổi

Đắk Nông nằm ở cửa ngõ phía tây nam của Tây Nguyên, nằm trong vùng tọa độ từ 11°45 đến 12°50 vĩ độ bắc và từ 107°12 đến 108°07 kinh độ đông[4]. Trung tâm tỉnh Đắk Nông nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột với chiều dài 125 km theo đường quốc lộ 14, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 250 km về phía nam.

Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Đắk Lắk

Phía đông và đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng

Phía nam giáp tỉnh Bình Phước[5]

Phía tây giáp Vương Quốc Campuchia với đường biên giới dài khoảng 120 km.[6]

Qua hai cửa khẩu là cửa khẩu Đăk Per thuộc huyện Đắk Mil và Bup'rang thuộc địa phận Tuy Đức[4].

Điều kiện tự nhiênSửa đổi

 
Cao nguyên Mơ Nông

Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M’Nông, với độ cao trung bình từ 600 mét đến 700 mét so với mặt nước biển, cao nhất là ở Tà Đùng với độ cao lên đến 1.982 mét. Nhìn chung địa hình Đăk Nông chạy dài và thấp dần từ đông sang tây. Địa hình đa dạng, phong phú và bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa các núi cao, với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải, lư­ợn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng[7].

Khí hậu Đăk Nông chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây NguyênĐông nam bộ, chính vì vậy chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng có sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa tây nam khô nóng. Khí hậu phân hóa thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình năm 2.513 mm. Mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể. Nhiệt độ trung bình năm 22-23 0C, nhiệt độ cao nhất 35 0C, thấp nhất 14 0C. Với điều kiện thời tiết này rất phù hợp với phát triển các cây trồng nhiệt đới lâu năm. Tuy nhiên khí hậu ở Đắc Nông cũng có những mặt bắt lợi là sự mất cân đối về lượng mưa trong năm và sự biến động lớn về biên độ nhiệt ngày đêm và theo mùa, nên yếu tố quyết định đến sản xuất và sinh hoạt là việc cấp nước, giữ nước và việc bố trí mùa vụ cây trồng[7].

Đắk Nông có mạng lưới sông suối, hồ, đập phân bố tương đối đều khắp, thuận lợi để khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng các công trình thủy điện. Đất đai Đăk Nông khá phong phú và đa dạng, được chia thành 5 nhóm đất chính gồm Nhóm đất xám, đất đỏ bazan, còn lại là đất đen bồi tụ. Đất nông nghiệp chiếm 47% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó đất trồng cây công nghiệp lâu năm chiếm phần lớn diện tích[7].

Lịch sửSửa đổi

 
Dân cư trên cao nguyên Mơ Nông

Thời Pháp thuộc năm 1893, người Pháp toàn quyền cai trị vùng cao nguyên Trung phần, trong đó có khu vực nay là tỉnh Đăk Nông. Hệ thống hành chính thực dân tập trung ở Đăk MilĐăk Song. Trong thời gian từ năm 1912 đến năm 1936, tại khu vực cao nguyên M'Nông đã diễn ra cuộc khởi nghĩa lớn và quy mô kéo dài chống lại thực dân Pháp do thủ lĩnh người dân tộc M'NôngN'trang Lơng lãnh đạo. Năm 1940, bên cạnh nhà tù Buôn Ma Thuột, Pháp cho xây dựng Ngục Đăk Mil (nay thuộc huyện Đăk Mil).

Khu vực này năm 1946 thuộc Xứ Thượng Nam Đông Dương rồi đến năm 1950 thì gom vào Hoàng triều Cương thổ trước khi đơn vị này bị xóa bỏ năm 1955 dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1959, khu vực Nâm Nung trở thành khu căn cứ của lực lượng quân cách mạng.

Tháng 1 năm 1959, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập tỉnh Quảng Đức trên cơ sở tách gần như toàn bộ quận Đăk Song (trừ tổng Đăk Lao ở phía bắc) và một phần quận Lăk từ tỉnh Darlac (Đắk Lắk), cùng với một phần nhỏ tỉnh Phước Long và tỉnh Lâm Đồng. Tỉnh lị đặt tại Gia Nghĩa. Địa giới hành chính tỉnh Quảng Đức, về cơ bản giống như địa giới tỉnh Đắk Nông ngày nay (trừ huyện Cư Jút hiện nay khi đó thuộc quận Ban Mê Thuột của tỉnh Darlac), được chia làm 3 quận: Đức Lập, Kiến Đức, Khiêm Đức và khu hành chính Đức Xuyên. Tháng 12 năm 1960, Chính quyền Cách mạng cũng đã quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức, giữa năm 1961, tỉnh Quảng Đức do khu VI trực tiếp chỉ đạo. Đầu năm 1962, Chính quyền Cách mạng quyết định giải thể tỉnh Quảng Đức, chuyển Đức Lập, Đức Xuyên nhập về tỉnh Đắk Lắk, Kiến Đức nhập về tỉnh Phước Long, Khiêm Đức nhập về tỉnh Lâm Đồng.

Sau ngày hai miền thống nhất, tháng 5 tháng 1975, tỉnh Quảng Đức được tái lập lại. Tháng 11 năm 1975, tỉnh Quảng Đức sáp nhập vào tỉnh Đắk Lắk. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2004, tỉnh Đắk Nông được tái lập theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đăk Lăk. Khi tách ra, tỉnh Đắk Nông có 6 đơn vị hành chính gồm 6 huyện: Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Nông, Đắk R'lấp, Đắk Song, Krông Nô. Tỉnh lị đặt tại thị trấn Gia Nghĩa, huyện Đắk Nông.

Ngày 27 tháng 6 năm 2005, chia huyện Đắk Nông thành thị xã Gia Nghĩa (thị xã tỉnh lị tỉnh Đắk Nông) và huyện Đắk Glong.[8]

Ngày 22 tháng 11 năm 2006, chia huyện Đắk R'lấp thành 2 huyện: Đắk R'lấpTuy Đức.[9]

Hành chínhSửa đổi

Tỉnh Đắk Nông có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thị xã và 7 huyện với 71 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 5 phường, 5 thị trấn và 61 xã.[10]

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc Đắk Nông
Tên Dân số (người) Hành chính
Thị xã (1)
Gia Nghĩa 94.700 5 phường, 3 xã
Huyện (7)
Cư Jút 100.986 1 thị trấn, 7 xã
Đắk Glong 63.203 7 xã
Tên Dân số (người) Hành chính
Đắk Mil 106.200 1 thị trấn, 9 xã
Đắk R'lấp 88.329 1 thị trấn, 10 xã
Đắk Song 79.482 1 thị trấn, 8 xã
Krông Nô 76.816 1 thị trấn, 11 xã
Tuy Đức 52.303 6 xã
Nguồn: Niên giám tỉnh Đắk Nông năm 2017

Kinh tếSửa đổi

 
Thị xã Gia Nghĩa giai đoạn
thi công nâng cấp


Năm 2011, tốc độ tăng trưởng GDP của Đắk Nông đạt 12,13%, trong đó khu vực công nghiệp xây dựng tăng 22,09%, nông lâm thủy sản tăng 5,95%, dịch vụ tăng 14,42%. Về Cơ cấu kinh tế năm 2011, công nghiệp xây dựng chiếm 26,66%, nông lâm thủy sản 50,21% và dịch vụ 23,13%. GDP theo giá hiện hành đạt 10.048 tỷ, tăng 1.619,5 tỷ so với năm 2010. Trong đó GDP ngành nông nghiệp 5.045 tỷ đồng, chiếm 50,2% so với giá trị tổng sản phẩm toàn tỉnh. "GDP" bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt 18,96 triệu đồng (kế hoạch 16,95 triệu đồng).[11]

Nhìn chung, công tác chỉ đạo trong một số lĩnh vực sản xuất đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản được giao. Trong đó, Tổng sản lượng lương thực đạt 317,5 ngàn tấn, bằng 99,97% kế hoạch. Sản lượng cà phê nhân 140.069 tấn, 75% hộ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch. Giá trị sản xuất trên 01 ha canh tác đạt 39,02 triệu, tăng 2,03 triệu so với năm 2010[11].

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
2004 403.400
2005 423.600
2006 440.900
2007 457.300
2008 474.400
2009 491.000
2010 505.200
2011 516.300
2019 622.168
Nguồn:[12]

Dân cưSửa đổi

Dân số tính đến ngày 1/4/2019 của toàn tỉnh đạt 645.401, trong đó dân số thành thị: 97.040 người, chiếm 15,04%; dân số nông thôn: 548.361 người, chiếm 84,96%; dân số nam: 330.108 người, chiếm 51,15%; dân số nữ: 315.293 người, chiếm 48,85%. Tổng tỷ suất sinh năm 2018 đạt 1,82 con/phụ nữ, tiếp tục duy trì ở mức sinh thay thế. Tỷ lệ tăng tự nhiên là 14,85‰; tỷ suất sinh thô là 21,01‰; tỷ suất chết thô là 6,16‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là 24,7‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 37,6‰. Tuổi thọ trung bình của dân số toàn tỉnh năm 2018 là 69,92 năm, trong đó nam là 67,11 năm và nữ là 72,9 năm (Niên thống kê 2018).

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 12 tôn giáo khác nhau đạt 272.643 người, nhiều nhất là Công giáo có 136.790 người, tiếp theo là đạo Tin Lành có 83.700 người, Phật giáo có 51.600 người, đạo Cao Đài có 341 người. Còn lại các tôn giáo khác như Phật giáo Hòa Hảo có 97 người, Minh Lý đạo có 70 người, Hồi giáo có 18 người, Tứ Ân Hiếu Nghĩa có chín người, Baha'i giáo có bảy người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có sáu người, Bà La Môn có bốn người và 1 người theo Minh Sư đạo.[13] Hiện tại (2019), Đắk Nông là một trong những địa phương có số dân theo đạo Công giáo đông đảo nhất khu vực Tây Nguyên với khoảng 136,790 giáo dân, chiếm 22% dân số trong toàn tỉnh.

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Nông có 40 dân tộc. Trong đó, đông nhất là người kinh với 332.431 người, xếp thứ 2 là người Mnông với 39.964 người, vị trí thứ 3 là người Nùng với 27.333 người, người Mông ở vị trí thứ 4 với 21.952 người, cùng với các dân tộc khác như người Tày với 20.475 người, người Dao có 13.932 người, người Thái có 10.311 người, người Mạ có 6.456 người, Ê Đê có 5.271 người, người Hoa có 4.686 người, người Mường có 4.070 người[13]...cùng một số dân tộc ít người khác.

Dân số Tỉnh Đắk Nông qua các năm 2010 - 2018
Năm
Thành thị
Nông thôn
Tổng
2010
76.329
434.241
510.570
2014
87.748
477.781
565.529
2015
89.838
494.074
583.912
2016
92.794
516.801
609.595
2017
95.281
532.786
628.067
2018 97.040 548.361 645.401
Nguồn: Cục thống kê Tỉnh Đắk Nông

Văn hóaSửa đổi

Nét đặc sắc của Đắk Nông có lẽ vẫn phần nào là rất nhiều của Đắk Lắk do một thời gian dài tỉnh này là một khu vực của Đắk Lắk.

Vùng đất này có nền văn hóa cổ truyền khá đa dạng của nhiều dân tộc đậm nét truyền thống và bản sắc riêng. Nơi đây còn lưu giữ nhiều pho sử thi truyền miệng rất độc đáo như sử thi Đam San dài hàng ngàn câu. Các luật tục cổ, kiến trúc nhà sàn, nhà rông và tượng nhà mồ còn chứa bao điều bí ẩn đầy hấp dẫn.

Các loại nhạc cụ dân tộc từ lâu đời đã trở nên nổi tiếng và là niềm tự hào của cả vùng Tây Nguyên, của văn hóa dân gian Việt Nam: bộ đàn đá của người M'Nông (huyện Lăk - Đăk Lăk), bộ chiêng đá được phát hiện tại Đắk R'lấp có niên đại hàng ngàn năm về trước, đàn T'rưng, đàn K'lông pút, đàn nước, kèn, sáo... Nếu đúng dịp, du khách sẽ được tham dự những lễ hội độc đáo còn nguyên chất dân gian. Trong lễ hội, cả buôn làng cầm tay nhau nhảy múa xung quanh đống lửa theo nhịp của cồng, chiêng.

Y tế & Giáo dụcSửa đổi

Giáo dụcSửa đổi

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắc Nông có 240 trường học ở cấp phổ, trong đó có Trung học phổ thông (cấp 3) có 22 trường, Trung học cơ sở (cấp 2) có 82 trường, Tiểu học có 136 trường, bên cạnh đó còn có 89 trường mẫu giáo[14]. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Đắk Nông cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh[14].

Y tếSửa đổi

Theo thống kê về y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắc Nông có 79 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 8 trạm xá, 71 trạm y tế phường xã, với 1029 giường bệnh và 258 bác sĩ, 596 y sĩ, 859 y tá và khoảng 483 nữ hộ sinh[15].

Hình ảnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Dân số các tỉnh Việt Nam”. Tổng cục Thống Kê Việt Nam. Truy cập Ngày 30 tháng 09 năm 2019. 
  2. ^ “Tình hình kinh tế, xã hội Đắk Nông năm 2018”. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Truy cập Ngày 12 tháng 10 năm 2019. 
  3. ^ http://quochoi.vn/hoatdongcuaquochoi/cackyhopquochoi/quochoikhoaXI/kyhopthutu/Pages/van-kien-tai-lieu.aspx?ItemID=2821 của Quốc hội khoá XI Về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh], Cổng thông tin điện tử Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  4. ^ a ă Vị trí địa lý tỉnh Đăk Nông, Trang Thông tin Điện Tử TTXT - Đầu tư, TM & DL Tỉnh Đắk Nông.
  5. ^ Vị trí địa lý, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  6. ^ Chiều dài biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia, Ủy ban Biên giới Quốc gia, Bộ Ngoại giao Việt Nam
  7. ^ a ă â Điều kiện tự nhiên tỉnh Đắc Nông, Cổng thông tin điện tử tỉnh Đắk Nông
  8. ^ Nghị định 82/2005/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Gia Nghĩa, thành lập các phường, xã thuộc thị xã Gia Nghĩa và đổi tên huyện Đắk Nông thành huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
  9. ^ Nghị định 142/2006/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, huyện; thành lập xã thuộc các huyện Đắk R'Lấp, Đắk Song, Đắk Mil và thành lập huyện Tuy Đức thuộc tỉnh Đắk Nông
  10. ^ Niên thống kê 2017
  11. ^ a ă Năm 2011, tốc độ tăng trưởng GDP toàn tỉnh đạt 12,13%, UBND tỉnh Đắk Nông - Vụ Kế hoạch
  12. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  13. ^ a ă Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  14. ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  15. ^ Y tế, Văn hoá, Thể thao và Mức sống dân cư , Tổng cục thống kê

Bản mẫu:Danh sách các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Đắk Nông