Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Ban-thiền Lạt-ma”

không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
Ban-thiền Lạt-ma thứ 10 Khước-cát Kiên-tán (zh. 却吉堅贊, bo. ''lobsang trinley choekyi gyaltsen'' (''choekyi gyaltse'')) giữ một vai trò chính trị quan trọng khi theo Đạt-lại Lạt-ma thứ [[14]] lưu vong tại [[Ấn Độ]] năm [[1959]]. Ông bị bắt giam năm [[1968]], được thả ra [[1977]] nhưng bị quản thúc ở [[Bắc Kinh]] cho đến [[1982]]. Năm [[1983]], ông cưới một cô người Hoa và có một đứa con gái, một thái độ nhìn chung rất lạ cho một vị tăng dòng Cách-lỗ. Năm [[1989]], Ban-thiền Lạt-ma chết bất thình lình tại Shigatse, thọ 52 tuổi.
 
Đạt-lại Lạt-ma thứ 14, Đăng-châu Gia-mục-thố (bo. ''tenzin gyatso'' བརྟན་འཛིན་རྒྱ་མཚོ་) xác nhận Gedhun Choekyi Nyima (bo. ''Dge-'dun Chos-kyi Nyi-ma'') là Ban-thiền Lạt-ma thứ 11 vào ngày [[14 tháng 5]] năm [[1995]], nhưng sau đó không lậulâu, chính quyền Trung Quốc xác nhận một cậu bé khác là Gyancain Norbu (bo. ''rgyal-mtshan nor-bu'') là Ban-thiền thứ 11 và cậu bé trước đây bị bắt giam vì "an toàn cá nhân" và đến giờ người ta không rõ tung tích.
 
Danh sách 11 vị Ban-thiền Lạt-ma:
Người dùng vô danh