Khác biệt giữa các bản “Thư pháp chữ Quốc ngữ”

không có tóm lược sửa đổi
[[Tập tin:Vietnamese Calligraphy.jpg|nhỏ|300px|Các font chữ [[VNI]] thư pháp tiếng Việt]]
[[File:Van Mieu han tu 5412918909 d5a211c1f0 t.jpg|nhỏ|Thư pháp chữ Việt]]
[[File:Van Mieu han tu 5412926827 072c42c3a1 t.jpg|nhỏ]]
'''Thư pháp chữ Việt''', hay '''thư pháp Việt ngữ''' là [[chữ quốc ngữ]] Việt viết lối [[thư pháp]], là một phân môn nghệ thuật xuất hiện ở [[Việt Nam]] từ [[thập niên 1950]] - [[thập niên 1960|1960]]. Những người đam mê và theo đuổi học tập, nghiên cứu phân môn nghệ thuật này tôn ông Đông Hồ [[Lâm Tấn Phát]] làm "Ông tổ" của Thư pháp chữ Việt. Ông sinh ngày [[15 tháng 2]] năm Bính Ngọ [[1906]], tại làng Mỹ Đức tỉnh [[Hà Tiên]]. Đông Hồ là một người có bàn tay tài hoa, vốn yêu thích viết chữ đẹp và nghệ thuật thư pháp, và lại yêu tiếng Việt nên ông là người đầu tiên có ý tưởng dùng cọ lông và mực Tầu viết chữ quốc ngữ. Vì thế ông được tôn là tổ sư của bộ môn Việt thư (thư pháp chữ Việt). Ông mất ngay khi đang đọc thơ trên bục giảng vào ngày 25/03/1969 nhằm năm Kỷ Dậu.
 
Bắt đầu là nhà thơ [[Đông Hồ]] viết thư pháp với bút sắt, sau này có nhà thư pháp Nhất Linh viết một số bức in trên tạp chí nhưng chưa thành phong trào. Mãi đến sau này, nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh khơi mào cho phong trào viết thư pháp Quốc ngữ bằng bút lông. Câu lạc bộ Thư pháp ban đầu chỉ có nhà thư pháp Nguyễn Đình và nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh viết thư pháp Quốc ngữ.
[[Tập tin:Đối - Tết 2009.jpg|nhỏ|Một câu đối Tết tiếng Việt, viết theo lối thư pháp, tại [[Đường hoa Nguyễn Huệ]] 2009 : ''"Tân niên hạnh phúc bình an tiến / Xuân nhật vinh hoa phú quý lai"'']]
[[File:Van Mieu han tu 5412926827 072c42c3a1 t.jpg|nhỏ]]
 
Vào những năm cuối của thế kỷ 20, phong trào thư pháp chữ Việt bùng nổ, điển hình là các câu lạc bộ thư pháp được thành lập rộng khắp các tỉnh phía Nam, đặc biệt là [[Thành phố Hồ Chí Minh]], như Câu lạc bộ yêu thích chữ Việt (Q.1), Câu lạc bộ Thư họa Giác Ngộ (Báo Giác Ngộ - Q.3), v.v. Từ năm 2004 lan rộng ra Bắc và sang đến đầu thế kỷ 21, thư pháp chữ Việt phát triển mạnh mẽ khắp ba miền Trung - Nam - Bắc.
Người dùng vô danh