Khác biệt giữa các bản “M-113”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (→‎Chiếm vũ khí đối phương để trang bị: clean up, replaced: ẩn dấu → ẩn giấu using AWB)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
|service= 1960–nay
|used_by= Xem ''Các nước sử dụng''
|wars= [[Chiến tranh Việt Nam]], [[Chiến tranh vùng Vịnh|Chiến dịch Bão táp sa mạc]], [[Chiến tranh Iran - Iraq]], [[Chiến tranh Kosovo]], [[Chiến tranh Afghanistan]].
|designer=
|design_date=
|primary_armament= [[Súng máy]] [[M2 Browning]]
|secondary_armament= tùy biến thể
|armour= [[Hợp kim của nhôm|Hợp kim nhôm]] 12-38 mm
|engine= Detroit Diesel 6V53T, 6 [[xi lanh]] [[động cơ Diesel|động cơ diesel]]
|crew= 2 lái xe + 11 lính bộ binh
|engine_power= 275 hp (205 kW)
|pw_ratio= 22.36 hp/tonne
}}
Thiết giáp chở quân '''M-113''', hay còn gọi là [[xe bọc thép chở quân|thiết vận xa]] M-113, một trong những loại xe bọc thép chở quân (''Armored Personel Carrier'' - '''APC''') phổ biến nhất trong lịch sử [[chiến tranh hiện đại]].
 
Được sản xuất vào cuối thập niên 1950, vào thời kỳ đầu của [[Chiến tranh Lạnh|Chiến tranh lạnh]] đến nay, với hơn 80.000 chiếc được sản xuất với 12 phiên bản khác nhau nhưng chủ yếu là các phiên bản M-113A1, M-113A2, M-113A3. Hiện nay M-113 còn phục vụ cho [[quân đội]] của khoảng 50 quốc gia, trong đó có [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]].
 
Với một đại liên 12,7 [[mM|mm]] và hai trung liên 7,62 mm bắn được về phía bên sườn, M-113 như một [[lô cốt]] di động, [[bộ binh]] trong xe có thể chiến đấu trực tiếp thay vì ẩn nấp và chờ đến nơi qui định mới xuống xe để chiến đấu.
 
== Lịch sử ==
 
== Giáp trụ và hệ thống bảo vệ ==
Thân xe được hàn toàn bộ của M-113 là hợp kim (loại 5083) của [[nhôm]], [[mangan]] và [[magiê|magie]] được sản xuất bằng phương pháp cán lạnh cho khả năng chống đạn súng cá nhân nhỏ và mảnh pháo.
Đời xe M-113A3 được thêm vào lớp lót chống miểng ở bên trong xe. Ngoài ra, M-113A3 còn có thể mang thêm giáp gia cố chống đạn 14,5mm ở 60 độ trước xe. Tất cả các dòng xe M-113 đều có thể trang bị giáp gia cố chống mìn ở dưới gầm xe. Từ đời M-113A2 trở đi đều có thể mang giáp phản ứng nổ (ERA).
== M-113 trong Chiến tranh Việt Nam ==
[[Tập tin:M113.jpg|Một chiếc M-113 của [[quân đội Mỹ]] trong [[chiến tranh Việt Nam]]|nhỏ|trái|300px]]
Cuối năm 1961, trước áp lực quân sự ngày càng cao của [[Quân Giải phóng Miềnmiền Nam Việt Nam|Quân Giải phóng Miền Nam]] đối với các vị trí phòng thủ của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Quân đội Việt Nam Cộng hòa]], Hoa Kỳ đã tăng cường yểm trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam Cộng hòa, trong đó có loại xe thiết giáp M-113.
 
Theo học thuyết quân sự Hoa Kỳ, loại M-113 được dùng như một loại “Taxi chiến trường” mang quân đến tận trận địa rồi đội quân xuống bộ tấn công mục tiêu. [[Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ]] khẳng định Việt Nam là chiến trường của Bộ binh, không phải là nơi đắc dụng cho lực lượng thiết giáp. Các nhà quân sự Mỹ kết luận rằng Việt Nam có địa hình chi chít núi non rừng rậm và nhiều sông ngòi đầm lầy chỉ là “mồ chôn” cho các loại xe cơ giới này.
Tuy vậy, với khả năng di chuyển địa hình tốt và sự thiếu thốn vũ khí chống tăng của đối phương, M-113 ngày càng được phát triển chiến thuật sử dụng như một xe chiến đấu. Lính bộ binh ở trên xe M-113 chiến đấu từ trong xe và khi đã đánh bật đối phương ra khỏi vị trí thì bộ binh mới bắt đầu xuống xe để chiếm giữ. M-113 dần được trang bị thêm nhiều loại khí tài bao gồm tấm chắn đạn cho khẩu .50 cal, súng máy M60 gắn ở hai bên sườn, bao cát và nhiều loại giáp tự chế khác được bố trí quanh xe như công sự để binh lính có thể chiến đấu mọi hướng từ trên xe. Việc trang bị dần trở nên chuẩn hóa vào năm 1966 với gói nâng cấp “A” bao gồm giáp chắn đạn cho khẩu .50 cal, giáp che 360 độ cho vị trí của xa trưởng và 2 súng máy M60 bên sườn cùng với tấm chắn đạn. Với cấu hình này, M-113 trở thành Xe bọc thép tấn công kị binh (''Armored Cavalry Assault Vehicle'' - '''ACAV'''), một khái niệm mới do thiếu tá Martin D. Howell, chỉ huy của liên đội 1, Trung đoàn kị binh bọc thép số 11, đề ra. Ngoài ra còn có gói nâng cấp “B” chỉ bao gồm giáp cho súng máy và bao quanh 360 độ vị trí của xa trưởng, thường được dùng trên các xe chở pháo cối.
 
So với khái niệm [[Xe chiến đấu bộ binh]] (''Infantry fighting vehicle'' - '''IFV''') truyền thống, ACAV có phần khác biệt để phù hợp với cách đánh ở Viêt Nam. Không trang bị một loại hỏa lực mạnh để chống tăng, dù một số phiên bản M-113 có thể được trang bị súng không giật, tên lửa chống tăng, nhưng ACAV lại có hỏa lực tổ hợp bao gồm 1 súng máy .50 cal (đôi khi là cả súng phóng lựu 40mm) và 2 súng máy 7,62mm chưa kể đến các súng cá nhân của binh sĩ. Với các tấm giáp bảo vệ trên nóc, binh sĩ trên xe M-113 có thể chiến đấu 360 độ quanh xe một cách dễ dàng, không bị hạn chế mà vẫn có một phần giáp bảo vệ. Ở hầu hết các đơn vị, sàn xe được lót bao cát để giảm hiệu quả của mìn. Để chống mìn tốt hơn nữa, ACAV còn được gắn giáp dưới bụng là các tấm [[titani|titan]]. Một số vật dụng trong xe được dỡ bỏ để lấy không gian chứa đạn dược và vật dụng của binh sĩ. Các tấm chắn bùn cũng được tháo ra để tránh cho bùn đất đóng cứng vào.
 
Trang bị cơ bản của một chiếc ACAV gồm 1 súng máy .50 M2HB, 2 súng máy 7,62mm M60. Tổ lái thông thường: lái xe, xa trưởng/ xạ thủ M2HB, 2 xạ thủ M60, 2 người nạp đạn. Mọi thành viên đều có một súng M16 và dùng chung một súng phóng lựu M79 40mm. Cơ số đạn: 3500 viên .50 cal, 8500 viên 7,62mm, 5000 viên 5,56mm, 150 viên đạn súng phóng lựu 40mm.
Những nhược điểm bị khai thác bằng lối đánh gần, tập trung hỏa lực. Các đơn vị Quân Giải phóng được phổ biến chiến thuật phục kích bí mật, chờ xe thiết giáp đối phương đến gần, chọn chiếc đi đầu, tập trung tất cả các loại vũ khí sẵn có để tiêu diệt. Tại điểm phục kích, họ dùng các hố bẫy xe và mìn chống tăng để chặn xe. Và khi xe đầu tiên rơi vào điểm phục kích, họ sẽ tập trung hỏa lực bắn vào xe, dùng lựu đạn chùm để diệt xe, và tập trung bắn tỉa xạ thủ trên nóc xe để gây hoang mang cho đối phương. Khi một xe bị trúng đạn bốc cháy, sẽ làm cho lái xe và xạ thủ của các xe khác mất tinh thần, đội hình sẽ rối loạn, tạo điều kiện tiếp tục tiêu diệt các xe còn lại.
 
Qua 2 trận đánh ở [[Ấp Bắc]] và [[Bình Giã]], họ chứng minh sự hiệu quả của chiến thuật này, đồng thời cũng nhanh chóng phát hiện thêm những điểm yếu của M-113 khi bộ giáp nhôm của nó tỏ ra không thể bảo vệ hoàn toàn cho binh sĩ bên trong trước các loại vũ khí có hỏa lực mạnh hoặc vũ khí chống tăng. Cộng với sự phát triển của chiến thuật đối phó với M-113, với sự chi viện từ miền Bắc, nhiều loại vũ khí mới có thể chế ngự M-113 như [[B40|B-40]], [[Súng chống tăng B41|B-41]], [[súng không giật]] 57mm, 75mm đã được trang bị cho các đơn vị Quân Giải phóng. Họ còn có cả loại lựu đạn chống tăng PGN-2 bắn từ [[AK-47]], loại đạn AK-47 cải tiến này có thể xuyên thủng được vỏ nhôm của M-113.
 
===Chiếm vũ khí đối phương để trang bị===
Với những trận đánh lớn đầu năm 1975, trước sức tấn công nhanh và mãnh liệt của của Quân Giải phóng và Quân đội Nhân dân Việt Nam, các đơn vị thiết giáp của Việt Nam Cộng hòa đã rút lui hoảng loạn, bỏ lại hàng ngàn xe tăng và thiết giáp còn nguyên vẹn, trong đó phần nhiều là M-113, M-41, và được đối phương sử dụng để đánh lại ngay những người chủ cũ của chúng, mà trong đó, trong đó theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài – còn khoảng 500 xe thiết xa M-113 còn sử dụng được.
 
Trong [[Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam|Chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam Việt Nam]], quân Việt Nam sử dụng rất nhiều chiến lợi phẩm thu được từ quân Việt Nam Cộng hòa để tấn công lực lượng [[Khmer Đỏ]], kể cả các loại vũ khí kỹ thuật cao như máy bay [[A-37 Dragonfly|A-37]], [[Northrop F-5|F-5]]. Trong đó, bên cạnh các xe tăng T-54/55, M-113 được xem là lực lượng xung kích chủ yếu trong lực lượng tăng – thiết giáp trong thời kỳ đó và tỏ ra rất hiệu quả trong tấn công.
 
Hiện nay trong khi các loại chiến xa chiến lợi phẩm như M-41, [[M48 Patton|M-48]] gần như không còn phục vụ nữa, thì M-113 vẫn còn là lực lượng chủ yếu trong binh chủng tăng – thiết giáp Việt Nam. Tuy nhiên do bị thiệt hại trong chiến tranh và thiếu phụ tùng thay thế nên số lượng M-113 của Việt Nam bị hao hụt rất nhiều, hiện tại con số M-113 còn hoạt động không được chính xác, theo một số nguồn tin con số này là khoảng 200.<ref>[http://vndefence.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=676/ Lực lượng Tăng - Thiết giáp Việt Nam: M-113]</ref>
:{{flag|Portugal}} ([[Quân đội Portuguese]])
:{{flag|Saudi Arabia}} ([[Quân đội Hoàng gia Saudi Arabia]]), ([[Vệ binh quốc gia Saudi Arabia]] ): 3,000
:{{flag|Singapore}} ([[Lực lượng vũ trang Singapore|Quân đội Singapore]] ): 1,200 (Đang dần được thay thế bằng [[Bionix AFV]]s)
:{{flag|Tây Ban Nha}}: 860 (Đang dần được thay thế bằng [[ASCOD AFV|Pizarro IFV]])
:{{flag|Thụy Sỹ}}: 400
986.568

lần sửa đổi