Khác biệt giữa các bản “Doãn Tử Tư”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
n
'''Doãn Tử Tư''' ([[chữ Hán]]: 尹子胥) (Đại Việt sử lược thì ghi là Doãn Tử Sung), quê làng Cổ Định xã [[Tân Ninh, Triệu Sơn|Tân Ninh]] huyện [[Triệu Sơn]] tỉnh [[Thanh Hóa]], là một nhà [[ngoại giao Việt Nam thời Lý|ngoại giao]] lớn của [[Việt Nam]] trong buổi đầu xây dựng nền độc lập tự chủ. Ông làm quan [[nhà Lý]], dưới triều vua [[Lý Anh Tông]], tới chức Trung vệ đại phu. Năm Giáp Thân ([[1164]]), ông được nhà vua cử làm đại sứ dẫn đầu một đoàn sứ bộ gồm có ông cùng Thừa nghị lang [[Lý Bang Chính]] (làm chánh sứ) và Trung dực lang [[Nguyễn Văn Hiến (nhà ngoại giao)|Nguyễn Văn Hiến]] (phó sứ), sang thành [[Lâm An]] [[Hàng Châu]] (kinh đô của [[Nam Tống]]) để [[triều cống]] đồng thời khiến vua [[nhà Tống]] công nhận vua nhà Lý là [[An Nam Quốc Vương]], và đã thành công. Đây là lần đầu tiên [[hoàng đế]] [[Trung Hoa]] công nhận Việt Nam với tên là "[[An Nam]] [[Quốc gia|quốc]]", thay vì trước đây chỉ xem Việt Nam là "[[Giao Chỉ]] [[quận]]", mặc dù Việt Nam (lúc đó có tên là [[Đại Việt]]) đã độc lập với [[Trung Quốc]] hơn hai, ba trăm năm trước đó<ref>[http://www.viethoc.org/eholdings/sach/kdvstgcm.pdf Khâm định Việt sử thông giám cương mục, trang 173 bản dịch tiếng Việt dạng pdf.]</ref><ref>[http://www.tiengnoitre.com/Proud/LSVL/updates.html Quốc hiệu Việt Nam-sử gia Trần Gia Phụng]</ref>.
Tới năm 1173 [[Niên hiệu Việt Nam|niên hiệu]] [[Chính Long Bảo Ứng]] 11, ông lại được cử đi sứ sang Tống một lần nữa đem voi (số lượng là 10 con khác với lần trước) để vua Tống tế Nam Giao.<ref>[http://www.viethoc.org/eholdings/sach/dvsl.pdf Đại Việt sử lược-khuyết danh, trang 76,78]</ref> <ref>[http://thanglonghanoi.vn/data/files/project/vietnam_3ac3334339cad500e3ac22ed690d3fd5.doc Biên niên ngoại giao Thăng Long-Hà Nội]</ref>.