Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Haiku”

không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
Thể thơ haiku được ra đời vào [[thế kỷ 17|thế kỉ 17]] và phát triển mạnh vào [[thời kỳ Edo|thời kì Edo]] ([[1603]] - [[1867]]) khi đã dần mất đi sắc thái trào phúng mà mang âm hưởng sâu thẳm của [[Thiền tông]]. Thiền sư thi sĩ lỗi lạc [[Matsuo Bashō|Matsuo Basho]] được thừa nhận là người khai sinh ra haiku và [[Yosa Buson]], [[Masaoka Shiki]] đã hoàn thiện nó dưới diện mạo và tên gọi như chúng ta thấy ngày nay. Đây có lẽ là thể thơ ngắn nhất thế giới bởi mỗi bài haiku, mặc dù đôi khi ta vẫn thấy có những hình thức khác, nhưng thường chỉ vỏn vẹn 17 [[âm tiết]] trong 3 câu 5+7+5 (17 âm tiết tiếng Nhật có khi chỉ vài ba từ ít ỏi, 3 câu trong cú pháp haiku cũng thường được viết thành một dòng). Chẳng hạn bài thơ con ếch nổi tiếng sau đây của Matsuo Bashō trong tập ''Xuân nhật'' (''Haru no hi'', 1686) viết chung với đồ đệ, có cú pháp 5+7+5 âm tiết:
 
:古池や ''Furuikeya'' (Phưfu-ru-i-kê-dake ya)
:蛙飛込む ''Kawazu tobikomu'' (Kaka-oawa-giư-tôzu to-bi-ko-mu)
:水の音 ''Mizu(mi-zu no oto'' (Mi-giư-nô-ôo-to)
 
Bài thơ viết theo các kiểu chữ khác nhau:
 
:古池や蛙飛込む水の音 (Hán tự [[kanji]])
::ふるいけやかわずとびこむみずのおと ([[hiragana]])
:::furuike ya kawazu tobikomu mizu no oto ([[romaji]])
 
Tạm dịch:
:Ao xưa;
:con ếch nhảy vào -
:tiếng nước xao.
 
== Nội dung thơ Haiku ==
20

lần sửa đổi