Khác biệt giữa các bản “Ninh Hạ”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n
n (Robot: Sửa đổi hướng)
}}
 
'''Ninh Hạ''' ({{zh-stpw |s=[[wiktionary:宁|宁]][[wiktionary:夏|夏]] |t=[[wiktionary:寧|寧]][[wiktionary:夏|夏]] |p=Níngxià |w=Ning-hsia}}), tên đầy đủ '''Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ''' ({{zh-stp |s=宁夏回族自治区 |t=寧夏回族自治區 |p=Níngxià Huízú Zìzhìqū}}), là một [[Khu tự trị Trung Quốc|khu tự trị]] của người [[Người Hồi Trung Quốc|Hồi]] của [[Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]], nằm ở [[cao nguyên Hoàng Thổ]] [[Tây Bắc Trung Quốc|Tây Bắc]], sông [[Hoàng Hà]] chảy qua một khu vực rộng lớn của khu vực này. Thủ phủ của Ninh Hạ là [[Ngân Xuyên]].
 
== Lịch sử ==
{{Hồi giáo và Trung Quốc}}
Ninh Hạ và những vùng phụ cận đã bị sáp nhập vào [[nhà Tần]] từ [[thế kỷ thứ ba TCN]]. Trải qua các triều đại [[nhà Hán]] và [[nhà Đường]] đã có thêm nhiều cư dân nơi khác đến đây định cư. Đến thế kỉ 11 tộc [[Đảng Hạng]] lập ra [[tây Hạ|nhà Tây Hạ]] ở nơi sau này là phần rìa lãnh thổ của [[nhà Tống]].
Về sau vùng nằm dưới sự thống trị của người [[Mông Cổ]] sau khi [[Thành Cát Tư Hãn]] đánh chiếm [[Ngân Xuyên]] đầu thế kỷ 13. Từ lúc người Mông Cổ bị đánh đuổi, ảnh hưởng của họ nhạt dần, [[Các dân tộc Turk|người Đột Quyết]] theo đạo Hồi bắt đầu di chuyển dần vào Ninh Hạ từ phía tây. Điều này tạo nên sự căng thẳng không thể tránh khỏi giữa [[người Hán|Hán]] và [[người Hồi|Hồi]] trong những thế kỷ sau.
 
Vào năm [[1914]], Ninh Hạ hợp nhất với [[Tỉnhtỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Cam Túc]]; tuy nhiên, đến năm 1928, lại bị tách ra và trở thành một tỉnh riêng. Trong những năm 1914 đến 1918, anh em [[Tây Bắc Tam Mã]] thống trị Ninh Hạ (ngoài ra còn có tỉnh Thanh Hải và Cam Túc). Năm [[1958]], Ninh Hạ chính thức trở thành [[khu tự trị Trung Quốc]]. Năm [[1969]], biên giới Ninh Hạ được mở rộng về phía Bắc chiếm một phần của [[Nội Mông]] tự trị khu, nhưng đã dời về như cũ vào năm [[1979]].
 
== Địa lý ==
Sông [[Hoàng Hà]] chảy qua Ninh Hạ.
 
Ninh Hạ là một khu vực khá khô khan và giống sa mạc, nên [[thủy lợi|tưới tiêu]] đóng vai trò rất quan trọng trong nghề trồng [[củ khởi]] (một loài cây được trồng chủ yếu trong vùng).
 
[[Sa mạc Tengger]] ở [[Shapotou]] nằm ở Ninh Hạ.
 
== Khí hậu ==
Ninh Hạ cách biển 1200 cây số ([[Kilometerkilômét|km]]) nên có [[khí hậu lục địa]] với nhiệt độ mùa hè trung bình nằm trong khoảng 17 và 24[[độ Celsius|°C]] trong tháng 7 và nhiệt độ mùa đông trung bình giữa -7 và -10 °C vào tháng giêng. Nhiệt độ tuyệt đối theo mùa có thể đạt 39 °C vào mùa hè và -30 °C trong mùa đông. Nhiệt độ chênh lệch trong một ngày hè có thể lên đến 17 °C. Lượng mưa trung bình hằng năm từ 190 đến 700 [[millimet]], tập trung ở phía nam vùng.
 
== Các đơn vị hành chính ==
! Tên
! Thủ phủ
! [[Chữ Hán|Hán tự]]<br>[[Bính âm Hán ngữ|Bính âm]]
! [[Tiểu nhi kinh]]
! Dân số ([[Tổng điều tra nhân khẩu lần thứ sáu (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)|2010]])
 
== Dân tộc ==
Ninh Hạ là nơi sinh sống của [[người Hồi]], một trong những [[cácdanh sách dân tộc Trung Quốc|dân tộc thiểu số Trung Quốc]] được chính quyền công nhận. Trong khi một số người có diện mạo khó phân biệt được với [[người Hán|Hán]] (tộc người chính của Trung Quốc), những người Hồi khác vẫn còn những đặt điểm của cư dân vùng Trung Á như da sạm, mắt nhạt màu, thêm vào đó là những bộ đồ thụng đặc trưng của đạo Hồi. Do là một điểm dừng trên [[con đường tơ lụa]], cư dân Ninh Hạ chịu nhiều ảnh hưởng của những thương nhân đi qua dây, trong đó có cả [[hồi giáo|đạo Hồi]] họ mang theo.
 
== Kinh tế ==
 
== Du lịch ==
Một trong những điểm du lịch chính ở Ninh Hạ là khu mộ Tây Hạ nổi tiếng, tọa lạc 30&nbsp;km về phía tây [[Ngân Xuyên]]. Di tích 9 ngôi mộ của các vị hoàng đế [[nhà Tây Hạ|Tây Hạ]] và 200 ngôi mộ khác năm trong khu vực 50-[[Square kilometer|km²]]. Những điểm đến nổi tiếng khác ở Ninh Hạ còn có [[Hạ Lan Sơn]], 108 [[Stupaphù đồ|dagoba]] bí ẩn, [[chùa Trung Quốc|chùa]] đôi of [[Baisikou]] và trạm nghiên cứu xa mạc ở [[Shapatou]].
 
== Xem thêm ==
986.568

lần sửa đổi