Khác biệt giữa các bản “Orinoco”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (clean up, replaced: |right| → |phải|, {{Reflist}} → {{Tham khảo}})
n (Robot: Sửa đổi hướng)
== Lịch sử ==
[[Tập tin:Map of Lower Orinoco pub. 1897.jpg|nhỏ|trái|258px|Bản đồ Hạ Orinoco năm 1897]]
Mặc dù cửa sông Orinoco ở [[Đại Tây Dương]] đã được ghi trong tài liệu của [[ChristopherCristoforo ColumbusColombo|Columbus]] vào ngày 1 tháng 8 năm 1498 trong tuyến hành trình thứ ba của mình, khởi nguồn của sông tại [[Carlos Delgado Chalbaud|Cerro Delgado-Chalbaud]] thuộc dãy [[Parima]] mới được khám phá lần đầu vào năm 1951, tức 453 năm sau. Đầu nguồn của sông nằm trên biên giới Venezuelan-[[Brasil]] và có độ cao {{convert|1047|m|0|abbr=on}} và có tọa độ ({{coord|02|19|05|N|63|21|42|W|}} ), và do một đoàn thám hiểm Venezuela-Pháp khám phá ra.
 
[[Đồng bằng Orinoco]], và các chi lưu ở phía đông llanos như [[sông Apure|Apure]] và [[sông Meta|Meta]], được khám phá vào thế kỷ 16 bởi nhà viễn [[Ambrosius Ehinger]] cũng những người nối tiếp ông. Năm 1531 [[Diego de Ordaz]], bắt đầu từ cửa sông chính của đồng bằng là Boca de Navios, đã ngược dòng lên đến Meta, và [[Antonio de Berrio]] xuôi dòng [[sông Casanare|Casanare]], đến Meta, và sau đó xuôi dòng Orinoco và trở lại [[Santa Ana de Coro|Coro]].
Ở cửa sông, Orinoco tạo thành một đồng bằng rộng và phân thành hàng trăm nhánh sông và kênh qua {{convert|41,000|km2|-3|abbr=on}} rừng đầm lầy. Vào mùa mưa, Orinoco có thể rộng đến {{convert|22|km|0}} và sâu {{convert|100|m|-1}}.
 
Hầu hết các sông quan trọng của Venezuela và chi lưu của Orinoco, trong đó lớn nhất là [[sông Caroni (Venezuela)|Caroní]], hợp lưu với Orinoco tại [[Puerto Ordaz]], gần thác [[Llovizna]]. Một đặc trưng của hệ thống sông Orinoco là [[kênh Casiquiare]], bắt đầu là một nhánh của Orinoco, và nối đến [[RioRío Negro (Amazon)|Rio Negro]], một chi lưu của [[sông Amazon|Amazon]], tạo thành một 'kênh đào tự nhiên' giữa Orinoco và Amazon.
 
===Các sông chính trong lưu vực Orinoco ===
986.568

lần sửa đổi