Khác biệt giữa các bản “Pháp (tôn giáo)”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Robot: Sửa đổi hướng)
'''Pháp''' (zh. ''fă'' 法, ja. ''hō'', sa. ''dharma'', pi. ''dhamma''), cũng được dịch theo âm [[Từ Hán-Việt|Hán-Việt]] là '''Đạt-ma''' (zh. 達磨, 達摩), '''Đàm-ma''' (zh. 曇摩), '''Đàm-mô''' (zh. 曇無), '''Đàm''' (曇). Chữ ''dharma'' vốn xuất phát từ [[tiếng Phạn]], ngữ căn √'''dhṛ''', có nghĩa là "nắm giữ", đặc biệt là nắm giữ tính năng hoạt động của con người. Cách dùng chữ thuật ngữ này rất đa dạng, và vì vậy, nó mang rất nhiều nghĩa:
# Tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử;
# Điều phải làm, nghề nghiệp, bổn phận, nghĩa vụ;
# Giáo lí, sự giải thích;
# Bản thể, bản tính;
# Thuộc tính, phẩm chất, đặc tính, cấu trúc cơ bản. Ý nghĩa này của thuật ngữ thường được dùng trong các luận giải của [[Duy thức tông|Du-già hành tông]], liệt kê tất cả kinh nghiệm thế gian thành 100 pháp hoặc 100 cấu trúc cơ bản. Họ cho rằng, các pháp không tồn tại trên cơ sở tự tính này hàng [[Nhị thừa]] không thể nào nhận thức được, nhưng là một đối tượng quán sát đặc biệt của hàng [[Bồ Tát]]. Không nhận thức được tính không của các cấu trúc cơ bản là điều rất quan trọng cho sở tri chướng. Xem thêm [[Bách pháp]].
# Trong luận lí học, là tiền đề hay là đối tượng của một động từ.
 
986.568

lần sửa đổi