Khác biệt giữa các bản “Mộng Tuyết”

:"Còn thơ, hoặc nhẹ nhàng dí dỏm, hoặc hàm xúc lâm ly, hoặc nhớ nhung bát ngát, hoặc xôn xao rạo rực, tổng chi là lời một thiếu nữ, khi tình tự, khi đùa giỡn, khi tạ lòng người yêu. Người xem thơ bỗng thấy lòng run run như khi được đọc thư tình gửi cho một người bạn: người thấy mình đã phạm vào chỗ riêng tây của một tâm hồn, trong tay như đương nắm cả một niềm ân ái." (''Thi nhân Việt Nam'', NXB Văn Học, 1988, tr.331)
 
Trong ''Văn thi sĩ Tiền chiến'', [[Nguyễn vỹVỹ]] đánh giá:
:" Nhất là văn xuôi, Mộng Tuyết viết rất ngọt ngào, chải chuốt, ảnh hưởng nhiều bởi những chuyện Tàu...Thơ của Mộng Tuyết cũng khác thơ Đông Hồ, nó gói ghém nhiều thi tứ hơn, ý nhị hơn"
(NXB Văn Học, 2007, tr.405)
''Tự điển Tác gia Văn hóa Việt Nam''khen ngợi:
:"Thơ bà chuẩn mực, trong sáng, hồn nhiên đượm vẻ ngọt ngào như tiếng nói dịu dàng của những cô gái có học nơi khuê phòng...
:Khởi đi từ [[Nguyễn Thị Hinh]] (bà huyện Thanh Quan), [[Đoàn Thị Điểm]], [[Tương phốPhố]]...đến Mộng Tuyết...Tất cả đã để lại cho đời những vần thơ nho nhỏ mà trác tuyệt..."(NXB Văn Hóa-Thông Tin, năm 1999)
 
Ngoài ra, ở Mộng Tuyết, còn có những vần thơ nhiều cảm xúc, nói lên sự kiện đau thương mà anh dũng của dân tộc Việt, như: "Mười khúc đoạn trường", "Dưới cờ" (1945), "Chiếc lá thị thành" (1947).