Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
Robot: Sửa đổi hướng
 
== Lịch sử ==
Trước đây, Thái Lan sử dụng đợn vị tiền tệ gọi là ''tical'' và tên này đã được sử dụng trong văn bản [[tiếng Anh]] trên các tờ giấy bạc cho đến năm [[1925]]. Tuy nhiên, đơn vị tiền tệ bạt đã hình thành vào [[thế kỷ 19]]. Cả tical và bạt ban đầu đều đã là các đơn vị [[trọng lượng biểu kiến|trọng lượng]] và các [[đồng xu]] đã được phát hành bằng cả [[vàng]] và [[bạc]] gọi tên theo trọng lượng của chúng tính bằng bạt và các [[phân số]] và [[bội số]] của nó.
 
Cho đến 1897, đồng bạt đã được chia ra thành 8 ''fuang'' ({{lang|th|เฝือง}}), mỗi fuang chia ra 8 ''att'' ({{lang|th|อัธ}}). Các tên gọi được sử dụng như sau:
|}
 
Hệ thống thập phân hiện nay, theo đó 1 bạt = 100 satang, đã được vua [[Rama V|Chulalongkorn]] áp dụng vào năm 1897. Tuy nhiên, đồng xu đặt tên theo các đơn vị cũ vẫn được phát hành cho đến tận năm 1910. Một tàn tích của hệ thống trước thập phân: 25 satang (¼ bạt) vẫn thông tục được gọi là một ''salueng'' hay ''salung'' ({{lang|th|สลึง}}). Nó thường được sử dụng cho những số lượng không vượt qua 10 salueng hoặc 2,50 bạt. Một đồng 25-satang đôi khi cũng được gọi là ''đồng xu salueng'' ({{lang|th|เหรียญสลึง}}, phát âm là '{{lang|th-Latn|rian salueng}}').
 
Cho đến ngày [[27 tháng 11]] năm [[1902]], đồng tical đã được cố định trên một cơ sở bạc ròng, với 15 g bạc là 1 bạt. Điều này khiến cho giá trị đơn vị tiền tệ của Thái Lan dễ biến động so với các đồng tiền theo chế độ [[kim bản vị|bản vị vàng]]. Năm 1857, giá trị của một số đồng tiền [[bạc]] nhất định đã được cố định theo quy định của pháp luật, với 1 bạt= 0,6 [[Straits dollar]] và 5 bạt = 7 [[rupee Ấn Độ]]. Trước năm 1880, tỷ giá hối đoái đã được cố định ở mức 8 bạt một [[Bảng Anh]], song đã tụt xuống 10 bạt một bảng trong [[thập niên 1880]].
 
{{Commonscat|Money of Thailand}}
986.568

lần sửa đổi