Khác biệt giữa các bản “Bùi Quang Dũng”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Robot: Sửa đổi hướng)
Năm 944, sau khi [[Ngô Quyền]] mất, Việt Nam lâm vào cảnh [[loạn 12 sứ quân]], các thế lực phong kiến nổi dậy, mỗi người hùng cứ một vùng. Các [[sứ quân]] [[Ngô Xương Xí]], [[Đỗ Cảnh Thạc]], [[Kiều Công Hãn]] biết tiếng ông đã cử người đến cầu hiền, thuyết phục ông và mời ông ra hợp tác với họ, nhưng ông đều một mực từ chối vì ông cho rằng họ không phải là bậc minh chủ.
 
Năm Đinh Mão (967), biết [[Đinh Tiên Hoàng|Đinh Bộ Lĩnh]] là người cương trực, mưu lược và chí lớn, ông đã tìm đến và ra mắt [[Đinh Tiên Hoàng|Đinh Bộ Lĩnh]], lúc đó ông đã 45 tuổi. Ông đã đem tài năng của mình, cùng với [[Nguyễn Bặc]], Đinh Điền, Lưu Cơ, Trịnh Tú... dốc lòng phò tá [[nhà Đinh]], thống nhất đất nước, lập nên triều đại [[nhà Đinh]]. [[Đinh Tiên Hoàng|Đinh Bộ Lĩnh]] lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là [[Đinh Tiên Hoàng]], đặt tên nước là [[Đại Cồ Việt]] đóng đô tại [[Hoa Lư]] ([[Ninh Bình]] ngày nay)
 
Năm Mậu Thìn (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, ban thưởng tướng sĩ, phong ông là Anh Dực tướng quân, sung Điện tiền Đô chỉ huy sứ kiêm Thiêm sự. Năm 971, ở vùng Kỳ Bố, Ngô Văn Kháng nổi loạn, triều đình cử quân đánh dẹp nhưng thất bại. Vua cử Bùi Quang Dũng cầm quân. Bằng uy đức của mình, ông đã dụ hàng Ngô Văn Kháng. Vua Đinh phong ông là Trấn Đông Tiết độ sứ, Tổng thống kiêm lý ba đạo, được đóng quân ở thành Kỳ Bố; sau lại thăng Đặc khai quốc Thiên sách Thượng tướng, tước An Tĩnh hầu và truy tặng thân phụ ông là Khải Tá hầu.
986.568

lần sửa đổi