Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
Robot: Sửa đổi hướng
Thơ '''song thất lục bát''' (''hai 7+6-8''), cũng được gọi là '''lục bát gián thất''' (''6-8 xen hai 7'') hay '''thể ngâm''' là một thể văn vần ([[thơ]]) đặc thù của Việt Nam. Một số tác phẩm lớn trong [[văn học Việt Nam|văn chương Việt Nam]], trong đó có bản dịch ''[[Chinh phụ ngâm|Chinh Phụ Ngâm]]'' ra quốc âm đã được viết theo thể thơ này.
 
Thơ song thất lục bát gồm có 2 câu 7 chữ và 1 câu 6 chữ, 1 câu 8 chữ.
 
== Sự phát triển ==
Là một thể thơ thuần Việt, song thất lục bát cùng với lục bát rất được các tác gia ưa dùng trong suốt thời kì văn học trung đại Việt Nam. Thể thơ này phát triển mạnh vào [[thế kỷ 18|thế kỉ 18]] cho đến tận đầu [[thế kỷ 20|thế kỉ 20]]. Nhiều tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam đã sử dụng thể thơ này như bản dịch [[Chinh phụ ngâm]] ([[Đoàn Thị Điểm]]), [[Ai tư vãn]] ([[Lê Ngọc Hân]]), [[Văn tế thập loại chúng sinh]] ([[Nguyễn Du]]), [[Cung oán ngâm khúc]] (Nguyễn Gia Thiều), Tự tình khúc ([[Cao Bá Nhạ]]), bản dịch [[Tỳ bà hành|Tì bà hành]] ([[Phan Huy Thực]]), [[Dương Khuê|Khóc Dương Khuê]] ([[Nguyễn Khuyến]]), Hải Ngoại huyết thư ([[Phan Bội Châu]])v.v...
 
Sau khi phong trào [[Thơ mới]] xuất hiện, song thất lục bát không còn được các nhà thơ ưa chuộng nữa. Các tác phẩm thuộc thể thơ này ngày càng hiếm gặp, có lẽ một phần do những quy định về vần luật phức tạp và khó khăn của nó. Một số tác phẩm song thất lục bát tiêu biểu của thời kì hiện đại có thể kể đến: Bà má Hậu Giang, Ba mươi năm đời ta có Đảng ([[Tố Hữu]])...
986.568

lần sửa đổi