Khác biệt giữa các bản “Chùa Ông Bắc”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (trình bày lại)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
[[Tập tin:Chùa Ông Bắc.jpg|nhỏ|phải|250px|Chùa Ông Bắc Long Xuyên]]
'''Chùa Ông Bắc''', tên chữ là '''Quảng Đông tỉnh hội quán''' ([[chữ Hán]]: 廣東省會館), là một ngôi chùa của [[người Hoa (Việt Nam)|người Việt gốc Hoa]] ở [[long Xuyên|thành phố Long Xuyên]], và là hội quán người Hoa đầu tiên ở [[An Giang]] ([[Việt Nam]])<ref>Theo Kỷ lục An Giang 2009, trang 59.</ref>.
 
Chùa đã được công nhận là di tích ''lịch sử - văn hóa'' cấp quốc gia ngày [[15 tháng 6]] năm [[1987]].
Chùa Ông Bắc tọa lạc trên đường [[Phạm Hồng Thái]] (mặt chính hướng ra sông [[Long Xuyên]], cách cầu [[Duy Tân]] khoảng 10 m); nay thuộc phường [[Mỹ Long]], thành phố [[Long Xuyên]].
 
Chùa được xây dựng ở [[thế kỷ 19]], khi vùng đất này còn mang tên Đông Xuyên; sau đó thuộc thôn [[Mỹ Phước]], huyện [[Tây Xuyên]], phủ [[Tuy Biên]], tỉnh An Giang thời [[nhà Nguyễn]]<ref>Năm [[1832]], [[Minh Mạng]] đổi Ngũ trấn thành Lục tỉnh là [[Thành Gia Định|Phiên An]], [[Biên Hòa]], [[Định Tường]], [[Vĩnh Long]], [[An Giang]] và [[Hà Tiên]]. Khi ấy, An Giang có 2 phủ: Tuy Biên, Tân Thành và 4 huyện: Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên, Vĩnh An. Địa danh Long Xuyên ra đời từ năm [[1870]], sau khi Pháp đến chiếm thành An Giang trước đó 3 năm. Trước khi Pháp đến tên Long Xuyên được dùng để chỉ xứ [[Cà Mau]] hiện nay.</ref>.
 
Theo những người cao tuổi và căn cứ vào bia ký kể lai lịch chùa, thì ban đầu chùa khá đơn sơ do những [[người Hoa]] từ tỉnh [[Quảng Đông]] ([[Trung Quốc]]) đến lập nghiệp rồi xây dựng để làm nơi hội họp, sinh hoạt.
==Kiến trúc==
[[Tập tin:Chánh điện Chùa Ông Bắc.jpg|nhỏ|phải|250px|Chánh điện Chùa Ông Bắc]]
Qua 4 năm xây dựng, đến năm [[Mậu Tuất]] ([[1891]]), chùa được hoàn thành và trở thành một công trình kiến trúc nghệ thuật đẹp và đáng tiêu biểu của [[long Xuyên|thành phố Long Xuyên]].
 
Chùa có diện tích 400 [[mét vuông|m²]], kiến trúc theo chữ Quốc (国). Trên cửa có khắc nổi hàng [[chữ Hán]]: ''Quảng Đông tỉnh Hội Quán''. Nối với tiền sảnh và cung thờ Bắc Đế là hai đường đi song song có mái che. Bên trong có nhà thủy tạ, Đông Lang và Tây Lang.
 
Mái nóc chùa lợp ngói đại ống tráng men xanh, trên cạnh nóc chạm khắc hình [[bát tiên]], [[voi]], [[rồng]], [[phượng]], [[cá]]... cùng những bức phù điêu, hoa văn cổ, đẹp mang sắc thái nghệ thuật nhà Nguyễn pha lẫn kiến trúc nghệ thuật [[Trung Quốc]].
Cột gỗ tròn bằng cây [[căm xe]], tường gạch hồ vôi ô dước, nền lát gạch hoa, khung bao cửa chính ra vào được xây dựng bằng những tảng đá xanh được chạm khắc tinh xảo.
 
Nội thất chùa có cấu trúc cảnh phong thủy, thoáng mát, trên đỉnh cao tứ giác có nhiều bức chạm trổ đẹp, hình tam cấp tượng trưng cho ba cõi: Thiên, địa, nhân. Nhìn chung, chùa đã thể hiện toàn cảnh một mô hình thu nhỏ của các ngôi nhà quan lại phong kiến [[Tên gọi Trung Quốc|Trung Hoa]].
 
==Di vật==
Trong chùa có 3 khánh, một tủ thờ sơn son thiếp vàng, một [[chuông]] đồng, [[đỉnh]] đồng... Bên hông chùa còn ba bia đá ghi bằng [[chữ Hán]] kể lại lịch sử xây dựng chùa.
 
Người được thờ chính tại chính điện là [[Trấn Vũ|Bắc Đế]]<ref>Bắc Đế tức Bắc Du Chơn Võ, hay còn được gọi Bắc Đế Trấn Vũ, một nhân vật khá nổi tiếng trong truyện [[Trung Quốc|Tàu]]. Theo truyền thuyết, ông là một vị tinh quân từ cõi trời xuống trần để trừ diệt yêu ma, trấn trị phong ba, lũ lụt, giúp đỡ dân lành.</ref> (cao khoảng 0, 7[[m]]), bên trái thờ [[Thiên Hậu Thánh mẫu|Thiên Hậu]], bên phải thờ [[Quan Vũ|Quan Công]]. Ngoài ra [[Tất-đạt-đa Cồ-đàm|Phật Thích Ca]], [[Địa Tạng Bồ Tát|Địa Tạng bồ tát]], [[Ngọc hoàngHoàng Thượng đế|Ngọc hoàng Thượng đế]] ... cũng được tôn thờ tại đây. Tất cả tập họp thành một bản sắc văn hóa của người Hoa, đã hòa nhập lâu đời vào nền văn hóa Việt Nam.
 
Hàng năm, vào những ngày [[3 tháng 3]] [[âm lịch]] (cúng vía Bắc Đế), [[22 tháng 3]] âm lịch (cúng vía Thiên Hậu) và [[21 tháng 6]] âm lịch (cúng vía Quan Công), trong bang hội và nhân dân quanh vùng đến dự lễ rất đông.
986.568

lần sửa đổi