Khác biệt giữa các bản “Trịnh Hòa”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Di chuyển 105 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q7333 Addbot)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
{{1000 bài cơ bản}}[[Tập tin:Zheng He map.jpg|nhỏ|400px|phải|Tấm bản đồ thế giới này được một số người coi là sao chép lại công trình do Trịnh Hòa thực hiện. Niên đại khoa học của nó sẽ được hoàn thành trong năm 2006]]
 
'''Trịnh Hòa''' ([[chữ Hán phồn thể|phồn thể]]: 鄭和; [[chữ Hán giản thể|giản thể]]: 郑和; Hán ngữ bính âm: '''Zhèng Hé'''; [[Wade-Giles]]: ''Cheng Ho''), tên khai sinh: '''Mã Tam Bảo''' (馬三寶 /马三宝; [[bính âm Hán ngữ|pinyin]]: ''Mǎ Sānbǎo'' tên [[Ả Rập]]: ''Hajji Mahmud Shams''), [[1371]]–[[1433]], là nhà hàng hải và nhà thám hiểm người [[Trung Quốc]] nổi tiếng nhất. Ông chính là người đã chỉ huy các chuyến thám hiểm được gọi chung là các chuyến đi của "Thái giám Tam Bảo hạ tây dương" (三保太監下西洋) hay "Trịnh Hòa đến đại dương phía tây" từ năm [[1405]] đến năm [[1433]]. Tạp chí ''Life'' xếp Trịnh Hòa đứng thứ [[Danh sách những người quan trọng nhất của Tạp chí Life|14 trong số những người quan trọng nhất]] trong [[thiên niên kỷ]] vừa qua. Ông là [[người Hồi]].
 
== Tiểu sử ==
<!-- [[Hình:Zhenghepainting.jpg|nhỏ|phải|200px|Trịnh Hòa trong quan phục.]] -->
 
Trịnh Hòa là một [[người Hồi]] và phục vụ bên cạnh hoàng đế thứ ba của [[nhà Minh]] - [[Minh Thành Tổ]] (trị vì từ [[1403]] đến [[1424]]). Theo tiểu sử của ông trong [[Minh sử]], ông có tên thật là Mã Tam Bảo (馬 三保) và quê ở [[Côn Dương]] (昆阳, ngày nay là [[Tấn Ninh]] (晋宁)), tỉnh [[Vân Nam]]. Trịnh Hòa thuộc về đẳng cấp [[Semur]] và theo [[Hồi giáo]]. Ông là hậu duệ đời thứ 6 của [[Sayyid Ajjal Shams al-Din Omar]], một viên quan cai trị tỉnh Vân Nam thời [[nhà Nguyên]] và đến từ [[Bukhara]], ngày nay thuộc [[Uzbekistan]]. Họ "Mã" của ông có từ người con thứ năm của Shams al-Din là Masuh. Cả ông nội và cha của ông, Charameddin và Mir Tekin, đều đã [[hẹ tây|hành hương]] tới thánh địa [[Mecca]], và một điều không còn nghi ngờ là ông đã được nghe ông và cha mình kể lại các câu chuyện về các chuyến đi tới những vùng đất lạ. Sau khi quân đội nhà Minh chiếm đóng Vân Nam, ông đã bị bắt giữ khi còn là một cậu bé con và bị hoạn, vì thế ông đã trở thành một [[hoạn quan|thái giám]] phục vụ cho hoàng đế. Tên gọi ''Trịnh Hòa'' do vua Minh Thành Tổ đặt cho ông để thưởng công giúp đảo chính lật đổ vua [[Minh Huệ Đế]]. Ông học tại [[Nam Kinh Thái học]].
 
Các sứ mệnh của ông đã chỉ ra một minh chứng đầy ấn tượng về khả năng tổ chức và sức mạnh công nghệ, nhưng đã không dẫn tới các hoạt động thương mại đáng kể, vì Trịnh Hòa là một quan chức và người chỉ huy của thủy quân chứ không phải là một nhà buôn. Có những lời đồn cho rằng ông cao ít nhất 2 mét (7&nbsp;ft).
 
Trịnh Hòa vượt biển tới [[Vương quốc Hồi giáo Malacca|Malacca]] vào [[thế kỷ 15]]. Vào giữa thế kỷ 15, công chúa Trung Hoa là [[Hán Lệ Bảo]] được gả cho quốc vương Malacca, vua Mansur Shah. Công chúa đi cùng với đoàn tùy tùng của mình - gồm 500 con trai của các quan và vài trăm cung nữ. Đoàn người này cuối cùng định cư tại [[Bukit Cina]] ở [[Melaka|Malacca]]. Hậu duệ của những người này, sinh ra từ các cuộc hôn nhân với dân bản xứ, ngày nay được biết đến như là những người Peranak: [[Peranaka|Baba]] (tước hiệu của đàn ông) và Nyonya (tước hiệu của đàn bà). (MP)
 
Năm [[1424]] Minh Thành Tổ chết. Người kế nghiệp là hoàng đế [[Minh Nhân Tông]] (trị vì từ năm 1424 đến năm [[1425]]), đã quyết định hạn chế ảnh hưởng của nội cung. Trịnh Hòa cũng đã thực hiện một chuyến đi nữa dưới thời trị vì của [[Minh Tuyên Tông]] (trị vì từ năm [[1426]] đến năm [[1435]]), nhưng sau đó những chuyến tàu đi tìm của cải của người Trung Quốc đã chấm dứt.
* [[Đông Nam Á]]
* [[Sumatra]]
* [[Java (đảo)|Java]]
* [[Sri Lanka|Tích Lan]] (Ceylon)
* [[Ấn Độ]]
* Có thể là [[châu Mỹ]]
* [[Vịnh Ba Tư]]
* [[Bán đảo Ả Rập]],
* [[Biển Đỏ|Hồng Hải]] tới xa nhất là [[Ai Cập]] và
* xa nhất về phía nam tới [[eo biển Mozambique]]
* [[Đài Loan]], 7 lần
 
Bản thân Trịnh Hòa viết về các chuyến đi của mình như sau:
:"Chúng tôi đã vượt qua hơn 100.000 [[lí (đơn vị đo lường Trung Quốc)|lí]] (50.000 [[kilômét|km]]) các vùng nước mênh mông và ngắm nhìn thấy trên đại dương các con sóng khổng lồ tương tự như các trái núi sừng sững ở phía chân trời, và chúng tôi đã ngắm nhìn các khu vực hoang dã ẩn xa trong làn sương khói màu xanh lam, trong khi các con thuyền của chúng tôi, kiêu ngạo giương cánh buồm giống như các đám mây ngày và đêm, vẫn tiếp tục cuộc hành trình của chúng (rất nhanh) giống như các vì sao, vượt qua các con sóng hung dữ này như thể là chúng tôi đang đi trên một con đường lớn..."
 
=== Bảy chuyến đi ===
 
Các đặc trưng phong phú của tàu thuyền Trung Quốc vào thời kỳ đó đã được các nhà thám hiểm châu Âu trước đó gián tiếp xác nhận, chẳng hạn như [[Ibn Battuta]] và [[Marco Polo]]. Theo Ibn Battuta, người đã đến Trung Quốc vào năm [[1347]] thì:
:''...Chúng tôi dừng lại trên cảng [[Calicut]], trong khi ấy đã có 13 con thuyền của người Trung Quốc đang bốc dỡ hành. Trên [[biển Trung Hoa]] việc đi lại chỉ có thể có được nhờ các con thuyền Trung Hoa, vì thế chúng tôi sẽ miêu tả các sắp xếp của chúng. Các tàu thuyền Trung Quốc có ba loại: loại thuyền lớn được gọi là [[chu ấn thuyền|thuyền mành]], loại trung bình gọi là thuyền buồm và loại nhỏ là kakam. Loại lớn có thể có từ 3 đến 12 buồm, được làm từ các thanh tre gắn kết lại như cái mành. Chúng không bao giờ bị hạ xuống, nhưng xoay theo hướng gió; khi bỏ neo thì chúng được thả để tự do xoay theo gió.''
:''Một thuyền có thể chở tới cả ngàn người, sáu trăm người trong số đó là các thủy thủ và bốn trăm người được trang bị vũ khí, bao gồm các cung thủ, những người mang [[mộc (vũ khí)|mộc]] và [[nỏ]] để bắn các loại tên có lửa. Ba thuyền nhỏ hơn, ..., đi kèm theo thuyền lớn. Các thuyền này được đóng ở [[Tuyền Châu]] và [[Quảng Châu]]. Thuyền có 4 khoang và chứa các phòng, cabin và phòng lớn cho các thương nhân; trong cabin có các phòng và buồng vệ sinh, và nó có thể đóng lại khi có người sử dụng...'' (Ibn Battuta).
 
Một niềm tin phổ biến cho rằng sau các chuyến đi của Trịnh Hòa thì Trung Quốc lại xa rời biển cả và đi vào thời kỳ trì trệ về công nghệ. Mặc dù các nhà lịch sử như [[John Fairbank]] và [[Joseph Needham]] đã phổ biến quan điểm này trong [[thập niên 1950]], nhưng phần lớn các nhà sử học hiện đại của Trung Quốc đều đặt câu hỏi về tính chính xác của nó. Họ cho rằng thương mại đường biển của Người Trung Quốc đã không bị dừng lại sau thời Trịnh Hòa, và các con thuyền Trung Quốc vẫn tiếp tục ngự trị trong thương mại vùng [[Đông Nam Á]] cho đến tận [[thế kỷ 19]] và các hoạt động ngoại thương tích cực của Trung Quốc với [[Ấn Độ]] và [[Đông Phi]] vẫn tiếp tục một thời gian dài sau thời Trịnh Hòa. Các chuyến đi của các thuyền buồm lớn của Trung Quốc như ''[[thuyền Kì Anh|Kì Anh]]'' tới [[Hoa Kỳ]] và [[Anh]] trong khoảng thời gian từ [[1846]] đến [[1848]] đã chứng tỏ sức mạnh của tàu thuyền Trung Quốc cho đến tận thế kỷ 19.
 
Mặc dù [[nhà Minh]] đã cấm đoán vận chuyển bằng tàu thuyền trên đại dương trong vài chục năm bằng chỉ dụ ''Hải cấm'', nhưng cuối cùng họ cũng đã bãi bỏ lệnh cấm này. Quan điểm khác viện dẫn thực tế là bằng lệnh cấm tàu thuyền này thì nhà Minh (và sau này là [[nhà Thanh]]) đã làm gia tăng số lượng người buôn lậu trên chợ đen. Điều này làm giảm nguồn thu thuế của chính quyền và làm gia tăng nạn [[cướp biển|hải tặc]]. Sự thiếu vắng của hải quân trên biển đã làm cho Trung Hoa dễ bị tổn thương bởi nạn hải tặc [[uy khấu]] (''wakou'') đã hoành hành vùng bờ biển Trung Quốc trong [[thế kỷ 16]].
 
Có một điều chắc chắn. Đó là các sự hỗ trợ của chính quyền cho hoạt động hàng hải đã suy giảm nghiêm trọng sau các chuyến đi của Trịnh Hòa. Từ đầu [[thế kỷ 15]] Trung Quốc đã phải chịu áp lực ngày càng tăng từ các bộ lạc [[Mông Cổ]] mới trỗi dậy ở phía bắc. Năm [[1421]] vua Minh Thành Tổ đã dời đô từ [[Nam Kinh]] về [[Bắc Kinh]] như là một sự thừa nhận sự hiện hữu của mối đe dọa này cũng như là để gần với khu vực quyền lực của dòng họ. Từ kinh đô mới ông có thể kiểm soát tốt hơn các cố gắng nhằm bảo vệ biên cương phía bắc. Với phí tổn đáng kể, Trung Quốc hàng năm tiến hành các cuộc viễn chinh nhằm làm suy yếu người Mông Cổ. Các phí tổn cho các chiến dịch trên bộ này đã cạnh tranh trực tiếp với ngân sách cần thiết dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải.
<!-- [[Hình:1120031329 2zhenghe2.jpg|nhỏ|trái|Các con tem nhân kỷ niệm 600 năm các chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa]] -->
 
Một giả thuyết gây mâu thuẫn gần đây (''[[giả thuyết 1421]]'') được [[Gavin Menzies]] đưa ra trong cuốn sách của ông đã giả thiết rằng Trịnh Hòa đã đi vòng quanh thế giới và phát hiện ra châu Mỹ trong [[thế kỷ 15]] trước cả [[Fernão de Magalhães|Ferdinand Magellan]] và [[Cristoforo Colombo|Christopher Columbus]].
 
Những thương nhân trong đoàn thám hiểm [[Qeng Ho]] được nói bóng gió trong truyện [[khoa học viễn tưởng]] ''A Fire Upon the Deep'' của [[Vernor Vinge]] (và sau đó được tưởng tượng rõ nét hơn trong ''A Deepness in the Sky'') phản ánh tên của Trịnh Hòa. Các chuyến đi của Trịnh Hòa và sự từ bỏ thám hiểm hàng hải sau đó của các hoàng đế Trung Hoa đã trở thành biểu tượng trong cộng đồng ủng hộ chương trình thăm dò [[vũ trụ]] về các thành công và sự hủy bỏ của [[chương trình Apollo]].
Hình tượng của Trịnh Hòa cũng được miêu tả trong cuốn sách của Kim Stanley Robinson ''The Years of Rice and Salt''.
 
Một số nhà sử học cũng như trong bài viết gần đây của ''[[Hội địa lý Quốc gia Hoa Kỳ|National Geographic]]'' về Trịnh Hòa, cho rằng [[thuyền trưởng Sindbad]] (từ [[tiếng Ả Rập]] السندباد-As-Sindibad) và tập hợp các câu chuyện về thám hiểm hàng hải đã tạo ra Bảy chuyến đi của thuyền trưởng Sindbad, được tìm thấy trong ''[[Nghìn lẻ một đêm]]'' chịu ảnh hưởng sâu nặng của các câu chuyện được tích lũy trong nhiều người đi biển đã từng theo, buôn bán và làm việc trong các tàu thuyền hỗ trợ khác nhau cho hạm đội của [[nhà Minh]]. Niềm tin này được hỗ trợ một phần bằng sự tương tự trong tên của Sindbad và các diễn giải khác nhau của tên gọi của Trịnh Hòa trong [[tiếng Ẩ Rập]] và [[tiếng Trung Quốc|tiếng Trung]] ([[chữ Hán phồn thể|phồn thể]]: 鄭和; [[chữ Hán giản thể|giản thể]]: 郑和; Hán ngữ bính âm: ''Zhèng Hé''; [[Wade-Giles]]: ''Cheng Ho''; tên khai sinh: Mã Tam Bảo (馬三寶 /马三宝; [[bính âm Hán ngữ|pinyin]]: ''Mǎ Sānbǎo'' tên [[Ả Rập]]: ''Hajji Mahmud Shams'') cùng với sự tương tự trong số lần (7) và các khu vực giống nhau trong các chuyến đi của Sindbad và Trịnh Hòa.
 
Tháng 1 năm [[2006]], ''[[BBC|BBC News]]'' và ''[[The Economist]]'' cả hai cùng có bài viết mới liên quan đến triển lãm bản đồ hàng hải Trung Quốc, được cho là có từ năm [[1763]], trong đó có thông tin là nó được sao chép từ một bản đồ khác vẽ năm [[1418]]. Bản đồ có các miêu tả chi tiết về cả các thổ dân châu Mỹ và Australia. Theo chủ sở hữu của bản đồ, ông Liu Gang-một luật sư Trung Quốc và là một nhà sưu tập đồ cổ, ông đã mua bản đồ này với giá 500 USD từ một người ở [[Thượng Hải]] năm [[2001]].
 
Sau khi Liu đọc cuốn sách ''1421:The Year China discovered the World'' (1421: Năm Trung Quốc phát hiện ra Thế giới) của Gavin Menzies, ông nhận ra tầm quan trọng của bản đồ này. Tấm bản đồ này hiện đang được kiểm tra để xác định tuổi của mực và giấy dùng để vẽ nó, với kết quả sẽ có trong tháng 2 năm 2006. Nếu như bản đồ được xác nhận là vẽ vào năm [[1763]], thì câu hỏi còn lại là nó có phải bản sao chính xác của tấm bản đồ sớm hơn vào năm [[1418]] hay không, hay chỉ đơn giản là sự sao chép cùng thời của các bản đồ của người châu Âu.
* [[Ban Siêu]]
* [[Pháp Hiển]]
* [[Huyền Trang|Đường Huyền Trang]]
* [[Chu Mãn]]
 
986.568

lần sửa đổi