Khác biệt giữa các bản “Tàu tuần dương bảo vệ”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Di chuyển 22 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q830335 Addbot)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
Với sự phát triển của [[Đạn pháo|đạn pháo nổ]] vào giữa [[thế kỷ 19]], tàu chiến cần được bảo vệ bổ sung, và các tàu tuần dương bảo vệ bắt đầu được chế tạo vào khoảng năm [[1880]]. Trên một tàu tuần dương bảo vệ, vỏ giáp được bố trí trên sàn tàu bên trong lườn tàu, bảo vệ cho nồi hơi và động cơ hơi nước. Những tàu tuần dương bảo vệ tiêu biểu có trọng lượng rẽ nước trong khoảng 2.500 đến 7.000 tấn, và được trang bị cho đến một tá pháo với cỡ nòng từ 100 đến 152 mm (3,9 - 6 inch). Chúng có khả năng đạt được tốc độ 33–43 km/h (18–23 knot).
 
Chiếc tàu tuần dương bảo vệ đầu tiên là một tàu chiến [[Chile]] [[Izumi (tàu tuần dương Nhật)|''Esmeralda'']] mang tính đột phá. Được đóng tại một xưởng tàu thuộc quyền sở hữu của [[Armstrong Whitworth]] ở [[Elswick, Tyne & Wear|Elswick]] thuộc [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh Quốc]], nó đã có ảnh hưởng đến một nhóm các tàu tuần dương bảo vệ được chế tạo tại cùng một xưởng đóng tàu và được gọi là những '''tàu tuần dương Elswick'''. Tháp [[cấu trúc thượng tầng]], sàn tàu phía đuôi và sàn tàu gỗ được tháo bỏ thay thế bằng một sàn tàu bọc thép. Vũ khí trang bị cho ''Esmeralda'' bao gồm các khẩu pháo 254 mm (10 inch) trước mũi và phía đuôi tàu cùng các khẩu 152 mm (6 inch) cho các vị trí giữa tàu. Nó có thể đạt được tốc độ 33 km/h (18 knot) và chỉ vận hành thuần túy bằng hơi nước, với một trọng lượng rẽ nước không quá 3.000 tấn. Trong vòng hai thập niên tiếp theo sau, kiểu tàu tuần dương này trở thành cảm hứng cho sự phối hợp pháo hạng nặng, tốc độ cao và tải trọng nhẹ. Đáng ngạc nhiên, cho dù thế hệ tàu chiến trên xuất phát từ Anh, bản thân [[Hải quân Hoàng gia Anh|Hải quân Hoàng gia]] không sở hữu bất kỳ chiếc tàu tuần dương Elswick nào. Họ ưa chuộng các tàu tuần dương "hạng nhất" rất lớn và được trang bị vũ khí nặng, hoặc tàu tuần dương "hạng hai" hay "hạng ba" vũ trang nhẹ hơn được thiết kế cho vai trò bảo vệ thương mại hàng hải.
 
Khoảng năm [[1910]], vỏ giáp bắt đầu được cải thiện về chất lượng; và động cơ [[tuốc bin hơi nước|turbine hơi nước]], nhẹ hơn và mạnh hơn so với [[động cơ hơi nước ba buồng bành trướng đặt dọc|động cơ ba buồng bành trướng đặt dọc]], cũng được đưa ra sử dụng. Các tàu tuần dương bảo vệ hiện hữu trở nên lạc hậu vì chúng chậm hơn và bảo vệ kém hơn những con tàu mới. Nồi hơi đốt nhiên liệu [[dầu F.O.|dầu]] cũng được áp dụng, khiến các hầm than hai bên lườn tàu không còn cần thiết, nhưng lại làm mất đi sự bảo vệ mà chúng cung cấp. Tàu tuần dương bảo vệ được thay thế bằng "tàu tuần dương bọc thép nhẹ" với đai giáp hông và các sàn tàu bọc thép thay vì một lớp sàn tàu như trước đây, sau này sẽ phát triển thành [[tàu tuần dương hạng nặng]].
 
== Tàu tuần dương bảo vệ của Hải quân Hoa Kỳ ==
[[Tập tin:USS New Orleans (1898-1929).jpg|nhỏ|300px|USS New Orleans]]
Những chiếc tàu tuần dương bảo vệ đầu tiên thuộc "Hải quân Mới" của [[Hải quân Hoa Kỳ]] là [[USS Atlanta (1884)|USS ''Atlanta'']]<ref name="NHC1"/> được hạ thủy vào [[tháng mười|tháng 10]] năm [[1884]], được tiếp nối không lâu sau đó bởi [[USS Boston (1884)|''Boston'']] vào [[tháng mười hai|tháng 12]] và [[USS Chicago (1885)|''Chicago'']] một năm sau đó. Một loạt các con tàu tuần dương được đánh số bắt đầu với [[USS Newark (C-1)|''Newark'' (Tuần dương Số 1)]], mặc dù [[USS Charleston (C-2)|''Charleston'' (Tuần dương Số 2)]] lại là chiếc được hạ thủy trước hết vào [[tháng bảy|tháng 7]] năm [[1888]], và kết thúc với một chiếc ''Charleston'' khác, [[USS Charleston (C-22)|Tuần dương Số 22]], hạ thủy vào năm [[1904]]. Chiếc cuối cùng còn sống sót của loạt này là [[USS Olympia (C-6)|USS ''Olympia'' (C-6)]], hiện đang được bảo tồn như một tàu bảo tàng tại [[Philadelphia]].
 
Việc xếp lớp lại vào ngày [[17 tháng 7]] năm [[1920]] đã đặt một dấu chấm hết cho việc sử dụng từ ngữ "tàu tuần dương bảo vệ" trong Hải quân Hoa Kỳ, những con tàu còn lại được gọi tên đơn thuần là "tàu tuần dương" với số hiệu lườn tàu mới, để cho các tàu tuần dương bọc thép còn lại có thể giữ nguyên số hiệu lườn tàu không đổi.<ref name="NHC1">[http://www.history.navy.mil/photos/events/spanam/crus-pge.htm Early American cruisers] from the Naval Historical Center. Ngoại trừ kiểu tàu tuần dương bọc thép lớn hơn, những con tàu này là "tàu tuần dương bảo vệ", với một lớp sàn tàu được bọc thép che phủ phòng động cơ và hầm đạn.</ref>
 
== Tàu tuần dương bảo vệ của Hải quân Hoàng gia Anh ==
[[Hải quân Hoàng gia Anh|Hải quân Hoàng gia]] [[Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland|Anh Quốc]] xếp loại tàu tuần dương của họ theo hạng nhất, nhì hoặc ba trong giai đoạn từ cuối những năm [[thập niên 1880|1880]] cho đến năm [[1905]], và đã đóng một số lượng lớn cho nhu cầu bảo vệ thương mại hàng hải. Hầu hết trong thời gian này, tàu tuần dương được đóng theo sơ đồ "bảo vệ", hơn là sơ đồ "bọc thép" cho lườn tàu. Tàu tuần dương bảo vệ hạng nhất lớn ngang bằng một tàu tuần dương bọc thép và trang bị vũ khí tương đương, và được chế tạo như một sự thay thế cho tàu tuần dương bọc thép hạng nhất từ cuối những năm [[thập niên 1880|1880]] cho đến năm [[1898]]. Tàu tuần dương bảo vệ hạng hai nhỏ hơn, lượng rẽ nước 3.000–5.500 tấn và có giá trị trong vai trò bảo vệ thương mại hàng hải lẫn tuần tra bảo vệ cho hạm đội. Tàu tuần dương bảo vệ hạng ba là những tàu nhỏ, không có đáy hai lớp, được dự định chủ yếu để bảo vệ thương mại hàng hải, cho dù một số tàu tuần dương nhỏ được chế tạo cho vai trò tuần tra hạm đội hay "tàu tuần dương ngư lôi" trong thời đại "tàu tuần dương bảo vệ".
 
Việc đưa vào sử dụng [[vỏ giáp Krupp]] dày 150&nbsp;mm (6 inch) đã khiến cho sơ đồ bảo vệ "bọc thép" hiệu quả hơn cho những tàu tuần dương hạng nhất lớn nhất, và không có chiếc tàu tuần dương bảo vệ hạng nhất nào được đóng sau năm [[1898]]. Những tàu tuần dương nhỏ hơn, không mang nổi sức nặng của đai giáp cồng kềnh, giữ lại sơ đồ "bảo vệ" cho đến năm [[1905]], khi những chiếc cuối cùng của các lớp [[Challenger (lớp tàu tuần dương)|''Challenger'']] và [[Highflyer (lớp tàu tuần dương)|''Highflyer'']] được hoàn tất. Có một sự gián đoạn chung trong chương trình đóng tàu tuần dương tại Anh sau thời gian này, ngoại trừ một vài lớp tàu tuần dương tuần tiễu nhỏ để hoạt động trong hạm đội. Khi Hải quân Hoàng gia bắt đầu chế tạo trở lại các tàu tuần dương lớn trên 4.000 tấn vào khoảng năm [[1910]], tùy theo lớp tàu, họ sử dụng một vỏ giáp sàn tàu hỗn hợp hoặc/và đai giáp để bảo vệ. Những tàu tuần dương hiện đại vận hành bằng turbine này được xếp loại chính xác là các [[tàu tuần dương hạng nhẹ]].
== Các mẫu còn lại ==
Một ít các tàu tuần dương bảo vệ còn sót lại được bảo tồn như những [[tàu bảo tàng]]:
* [[Aurora (tuần dương hạm Nga)|''Aurora'']]—[[Sankt-Peterburg|St Petersburg]]
* [[HNLMS Bonaire|HNLMS ''Bonaire'']]—[[Delfzijl]], Netherlands
* [[USS Olympia (C-6)|USS ''Olympia'']]—[[Philadelphia]]
986.568

lần sửa đổi