Mở trình đơn chính

Các thay đổi

Không thay đổi kích thước, 6 năm trước
n
Robot: Sửa đổi hướng
'''Tổ Đại Thọ''' ([[chữ Hán]]: 祖大壽, ? – [[1656]]), [[tên chữ|tên tự]] là '''Phục Vũ''', người Ninh Viễn, Liêu Đông (nay là [[Hưng Thành]], [[Liêu Ninh]]), tướng lãnh cuối [[nhà Minh|đời Minh]], từng 2 lần hàng [[Nhà Thanh|Thanh]]. Ông cùng [[Hà Khả Cương]], [[Triệu Soái Giáo]] từng được [[Viên Sùng Hoán]] ca ngợi là '''Liêu Đông tam kiệt''' <ref>Bài viết về Tổ Đại Thọ trên [http://www.dpm.org.cn Website của Viện Cố Cung Bác Vật], truy cập ngày 22/02/2013</ref>.
 
==Dõng dõi nhà tướng, đại thắng Ninh – Cẩm==
Ông sinh ra trong một đại tộc ở [[Liêu Đông]], tự nhận là hậu duệ của danh tướng [[Tổ Địch]]. 3 anh em Đại Thọ, Đại Nhạc, Đại Bật đều làm tướng. Ông là cậu của [[Ngô Tam Quế]].
 
Ban đầu Đại Thọ làm Tĩnh Đông Doanh du kích. Kinh lược [[Hùng Đình Bật]] tâu lên khen ngợi các tướng trung cần, ông nằm trong số ấy. Đầu đời [[ThiênMinh KhảiHy ĐếTông|Thiên Khải]] (1621 – 1627), Quảng Ninh tuần phủ [[Vương Hóa Trinh]] dùng làm Trung quân du kích. [[Quảng Ninh (định hướng)|Quảng Ninh]] bị phá, Đại Thọ chạy ra đảo Giác Hoa. Đại học sĩ [[Tôn Thừa Tông]] ra làm Đốc sư, lấy ông giúp Tham tướng [[Kim Quan]] giữ đảo.
 
Năm Thiên Khải thứ 3 (1623), Thừa Tông theo lời bàn của Tham chánh đạo [[Viên Sùng Hoán]], đắp thành [[Ninh Viễn]], lệnh làm cho cao rộng, Đại Thọ đốc trách việc này. Xong, tháng giêng năm thứ 5 (1625), quân [[Nhà Thanh|Hậu Kim]] của [[Nỗ Nhĩ Cáp Xích]] đến, đào hầm mà đánh, ông giúp Sùng Hoán giữ thành, nổ pháo gây thương vong cho mấy trăm tên địch. Nỗ Nhĩ Cáp Xích đánh không nổi, dời quân sang cướp đảo Giác Hoa, chém Kim Quan, giết hơn vạn sĩ tốt.
 
Năm thứ 7 (1627), Hoàng Thái Cực cất quân đánh Ninh Viễn, Sùng Hoán lệnh Đại Thọ đem 4000 tinh binh quấy nhiễu phía sau quân Kim, bọn tổng binh [[Mãn Quế]], [[Vưu Thế Uy]] đưa quân đến giúp, giao chiến dưới thành Ninh Viễn. Quân Kim đánh Cẩm Châu không được, lại gặp thời tiết oi bức, đành phải lui chạy, sử gọi là “'''Đại thắng Ninh Cẩm'''”.
 
==Cứu viện Bắc Kinh, giành lại Vĩnh Bình==
[[SùngMinh TrinhTư Tông|Sùng Trinh đế]] lên ngôi (1627), dùng Sùng Hoán làm Đốc sư, thăng Đại Thọ làm Tiền phong tổng binh, đeo ấn Chinh Liêu tiền phong tướng quân, giữ [[Cẩm Châu]]. Hoàng Thái Cực cùng Đại Thọ thư từ qua lại, muốn sai sứ điếu tang Thiên Khải đế, còn muốn chúc mừng vua mới, ông đáp thư từ chối. Qua 2 năm (1629), quân Kim xâm phạm Kinh đô, Sùng Hoán soái bọn Đại Thọ về cứu, Sùng Trinh đế triệu kiến ở Binh đài, úy lạo, lệnh cho bọn họ đặt doanh trại ở đông nam thành chống giặc.
 
Sùng Hoán bị luận tội “'''dẫn địch hiếp hòa'''” (ý nói đưa quân Kim vào xâm phạm, nhằm uy hiếp triều đình chấp nhận hòa nghị) mà tống giam, Đại Thọ sợ đến bủn rủn, muốn quay về Liêu Đông, lại nghe nói Võ kinh lược Mãn Quế nắm hết binh tướng Ninh Viễn, không phục, bèn đưa bộ hạ nhắm hướng đông mà chạy, ra khỏi Sơn Hải Quan, xa gần chấn động. Sùng Trinh đế sai Sùng Hoán viết thư chiêu dụ, Thừa Tông cũng sai sứ an ủi, ông ngầm cho dâng lên bài văn tự trình bày, xin lập công chuộc tội cho Sùng Hoán. Đại Thọ nói như vậy, Đế cũng đáp chỉ vỗ về.
Hoàng Thái Cực đổi niên hiệu là Sùng Đức (1636), phong quan chức cho các con cháu của Đại Thọ và bọn hàng tướng Minh, sai sứ ban sắc đòi ông trình bày sách lược tiến binh, Đại Thọ không trả lời.
 
Tháng 10 năm Sùng Trình thứ 11 (1638), Hoàng Thái Cực tự đưa quân đánh nhà Minh, soái Trịnh thân vương [[Tế Nhĩ Cáp Lãng|Tể Nhĩ Cáp Lãng]], Dự thân vương [[Đa Đạc]] ra Ninh Viễn, Cẩm Châu đại đạo; Duệ thân vương [[Đa Nhĩ Cổn]] nắm cánh trái, từ Thanh Sơn Quan mà vào; Bối lặc [[Nhạc Thác]] nắm cánh phải, từ Tường Tử Lĩnh mà vào. Đại Thọ đang đóng đồn ở Trung Hậu Sở <ref>Gọi đầy đủ là Trung Hậu Thiên Hộ Sở, được thiết lập vào năm [[Tuyên Đức]] thứ 3 (1428) nhà Minh; nay là Tuy Trung, Liêu Ninh</ref>, đưa quân tập kích Đa Đạc, quân đội Thổ Mặc Đặc <ref>'''Thổ Mặc Đặc''' (土默特, phiên âm La Tinh: Tümed hay Tumad) là một bộ lạc Mông Cổ, ngày nay sanh hoạt chủ yếu ở [[Hohhot|Hô Hòa Hạo Đặc]], một phần ở [[Hulunbuir|Hô Luân Bối Nhĩ]]</ref> chạy trước, Đa Đạc cũng thua chạy. Hôm sau, Đa Đạc hợp binh với Tể Nhĩ Cáp Lãng ra đánh, Đại Thọ thu binh không quay lại giao chiến. Hoàng Thái Cực tự soái quân đến Trung Hậu Sở, trước sau 2 lần sai sứ yêu cầu Đại Thọ gặp mặt, ông rốt cục không ra. Bọn Thạch Đình Trụ, [[Mã Quang Viễn]], [[Khổng Hữu Đức]] đánh hạ các đài bảo lân cận, Hoàng Thái Cực mệnh cho lui quân, tuyên bố đại thắng.
 
Tháng 2 năm thứ 12 (1639), Hoàng Thái Cực cất quân phạt Minh, lấy Vũ Anh quận vương [[A Tể Cách]] làm tiền phong, tự mình đốc quân vây Tùng Sơn, chia quân đánh [[Liên Sơn]], [[Tháp Sơn]], [[Hạnh Sơn]]. Sùng Trinh đế triệu Đại Thọ về cứu, ông vừa mới lên đường, quân Thanh đến, nên lui về giữ Ninh Viễn. Khi ấy Trạch Viễn giữ Hạnh Sơn, Đại Thọ sai 3 viên bô tướng, 900 quân theo đường thủy đi cứu, nửa đêm vào thành. Quân Cát Bố Thập Hiền <ref>'''Cát Bố Thập Hiền Siêu Cáp''' là đội tiền phong của '''Ba Nha Lạt Siêu Cáp'''. '''Siêu Cáp''' nghĩa là quân hay binh, Ba Nha Lạt là tinh binh được tuyển chọn từ con em quý tộc [[Nữ Chân Kiến Châu]]</ref> đuổi theo phía sau, bắt kịp, cướp được 1 chiếc thuyền, giết 50 người. Hoàng Thái Cực sai sứ đến Cẩm Châu dụ vợ ông, dạy bà đem lẽ lợi hại khuyên Đại Thọ về hàng. Ông tuyển quân Mông, Hán đều được 300 người, sai [[Tổ Khắc Dũng]] cùng bọn phó tướng [[Dương Chấn]], [[Từ Xương Vĩnh]] ra giữ bên ngoài Cẩm Châu; đến cửa sông Ô Hân, giao chiến với 160 lính thú Mãn, Mông do [[A Nhĩ Tát Lan]] soái lãnh. Chấn bị bắt, 84 người bị giết, 150 con ngựa bị lấy mất. Khắc Dũng dựa vào núi lập trại, Hoàng Thái Cực tự đốc quân Ba Nha Lạt phá trại, Xương Vĩnh bị chém, Khắc Dũng bị bắt, 311 người bị giết, 411 con ngựa bị lấy mất. Quân Thanh đánh Tùng Sơn, không hạ được, gặp lúc 2 cánh trái, phải trở lại, Hoàng Thái Cực mệnh cho bãi binh lui về Thịnh Kinh. Đại Thọ lại vào Cẩm Châu. Năm ấy quân Thanh mấy lần vào cướp Cẩm Châu, Ninh Viễn, Tùng Sơn, Hạnh Sơn, đều không thành công, bắt được người, của thì lập tức lui về.
 
===Đầu hàng lần thứ 2===
Tháng 3 năm thứ 13 (1640), nhà Thanh mệnh cho Trịnh thân vương Tể Nhĩ Cáp Lãng, Bối lặc Đa Đạc soái quân ra đóng đồn làm ruộng ở [[Nghĩa Châu, Nghĩa Hưng|Nghĩa Châu]]. Tháng 5, Hoàng Thái Cực đi Nghĩa Châu thị sát, đầu mục Mông Cổ là bọn Tô Ban Đại ở phía tây thành Hạn Sơn sai sứ xin hàng, Hoàng Thái Cực mệnh cho bọn Tể Nhĩ Cáp Lãng soái 1500 quân Ba Nha Lạt đi đón. Đại Thọ dò biết quân Thanh ít người, lệnh cho Du kích Đái Minh cùng Tùng Sơn tổng binh Ngô Tam Quế, Hạnh Sơn tổng binh Lưu Chu Trí hợp 7000 quân tập kích, Tể Nhĩ Cáp Lãng lui chạy để nhử, rồi quay lại đánh cho quân Minh đại bại. Hoàng Thái Cực tự đi xem thành Cẩm Châu, đánh Ngũ Lý Đài ở phía đông thành, Lượng Mã Đài ở phía bắc thành, đều hạ được, cắt hết lúa rồi trở về. Hoàng Thái Cực mệnh cho bọn Tể Nhĩ Cáp Lãng, Đa Nhĩ Cổn luân phiên đánh Cẩm Châu.
 
Tháng 3 năm thứ 14 (1641), Tể Nhĩ Cáp Lãng mệnh cho các cánh quân lập doanh trại quanh thành. Đại Thọ lệnh cho lính Mông Cổ giữ tường thấp, bọn Bối lặc Nặc Mộc Tề sai sứ xin hàng, mở cửa đông của thành ngoài (nguyên văn: quách) đón quân Thanh. Ông nghe tin, đưa quân ra khỏi thành trong (nguyên văn: tử thành), giao chiến với quân Mông Cổ. Quân Thành áp sát thành ngoài, được quân Mông Cổ thả dây thừng, vịn lấy mà trèo lên, thổi tù và tấn công. Đại Thọ lui về giữ thành trong, quân Thành vượt qua thành ngoài, bắt được hơn 10 viên bì tướng cùng 5367 nam nữ. Viện quân Minh từ Hạnh Sơn đến, Tể Nhĩ Cáp Lãng sắp đặt mai phục đánh cho đại bại, bị giết 170, bị bắt 4374 người, bị lấy mất 160 con ngựa, 76 bộ giáp.
986.568

lần sửa đổi