Khác biệt giữa các bản “Cuộc đời Giê-su theo Tân Ước”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Robot: Sửa đổi hướng)
Giê-su{{Chúa Giê-su}}
Bốn sách Phúc âm trong [[Tân Ước]] là nguồn tư liệu chính cho câu chuyện kể của tín hữu Cơ Đốc về cuộc đời [[Giê-su|Chúa Giê-su]].
 
== Gia phả và Gia đình ==
Có hai ký thuật gia phả Chúa Giê-su trong các sách Phúc âm:<ref>Tom Wright, ''Luke for Everyone'', Westminster John Knox Press (2004), page 39.</ref> một về họ nội qua người cha pháp lý [[Joseph]] (''Giu-se'' hoặc ''Giô-sép'') trong [[Phúc Âm Matthew|Phúc âm Matthew]] (''Mát-thêu'' hoặc ''Ma-thi-ơ'') 1: 2-16,<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?book_id=47&chapter=1&version=19 Phúc âm Matthew 1: 2-16]</ref> và về họ ngoại qua người mẹ với những tham chiếu về người cha được chép ở [[Phúc Âm Luca|Phúc âm Lu-ca]] 3: 23-38.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Lu-ca%203:%2023-38;&version=19; [[Phúc Âm Luca|Phúc âm Lu-ca]] 3: 23-38]</ref> Hai ký thuật trên đều truy nguyên phổ hệ của Chúa Giê-su đến [[David|Vua David]], rồi từ đó đến [[Abraham]]. Có sự tương đồng nếu tính từ Abraham đến David, nhưng có một ít khác biệt nếu tính từ David đến Joseph. [[Matthew]] khởi đầu với [[Vua Solomon]] và liệt kê các đời vua Judah cho đến vị vua sau cùng, Jeconiah. Sau đó đất nước bị xâm lăng bởi [[Đế quốc Babylon]]. Như thế, Matthew chỉ ra rằng Chúa Giê-su là hậu duệ chính thức của vương triều [[Israel]]. Trong khi đó, bản gia phả của [[Luca]] dài hơn và chi tiết hơn bản gia phả của Matthew, truy nguyên đến [[Adam]] và cung cấp nhiều tên tuổi hơn trong đoạn từ David đến Chúa Giê-su, đưa ra các tên của những hậu duệ trực tiếp từ Adam đến Chúa Giê-su về phía [[Mary]] (''Maria'' hoặc ''Ma-ri'').
 
Joseph chỉ xuất hiện trong phần tường thuật về tuổi thơ của Chúa Giê-su. Sự kiện Chúa phó thác cho người môn đồ thân yêu bổn phận chăm sóc bà Mary khi ngài đang bị đóng đinh trên thập tự giá (Phúc âm Giăng 19: 25-27<ref>''"Bên thập tự giá của Chúa Giê-su, có mẹ Ngài đứng đó, với chị mẹ Ngài là Ma-ri vợ Cơ-lê-ô-pa, và Ma-ri Ma-đơ-len nữa. Chúa Giê-su thấy mẹ mình, và một môn đồ ngài yêu đứng gần người, thì nói cùng mẹ rằng: Hỡi đàn bà kia, đó là con của ngươi! Đoạn, Ngài lại phán cùng người môn đồ rằng: Đó là mẹ ngươi! Bắt đầu từ bấy giờ, môn đồ ấy rước người về nhà mình"'' – Phúc âm Giăng 19: 25-27.</ref>) cho thấy có lẽ Joseph đã từ trần trong thời gian Chúa Giê-su thi hành thánh chức.<ref name=WebBible>Easton, Matthew Gallego. [http://www.christiananswers.net/dictionary/joseph-fosterfatherofjesus.html Joseph (the foster father of Jesus Christ)]. Truy cập 26 tháng 6 năm 2006</ref> Cả Matthew 13: 55-57<ref>''"Có phải là con người thợ mộc chăng? Mẹ người có phải là Ma-ri, và anh em người là Gia-cơ, Giô-sép, Si-môn, Giu-đe chăng? Chị em người đều ở giữa chúng ta chăng? Bởi đâu mà người nầy được mọi điều ấy như vậy? Họ bèn vì cớ Ngài mà vấp phạm. Song Chúa Giê-su phán cùng họ rằng: Đấng tiên tri chỉ bị trong xứ mình và người nhà mình khinh dể mà thôi"'' – Phúc âm Matthew 13. 55-57</ref> và [[Mark]] (''Macô'' hoặc ''Mác'') 6: 3<ref>''"Có phải người là thợ mộc, con trai Ma-ri, anh em với Gia-cơ, Giô-sê, Giu-đe, và Si-môn chăng? Chị em người há chẳng phải ở giữa chúng ta đây ư? Chúng bèn vấp phạm vì cớ Ngài"'' – Phúc âm Mark 6: 3</ref> đều nói về người thân trong gia đình của Chúa Giê-su. Phúc âm Mark 6: 3 thuật lại rằng những người nghe Chúa Giê-su giảng luận đều hỏi ''"Có phải người là thợ mộc, con trai Ma-ri, anh em với Gia-cơ, Giô-sê, Giu-đe, và Si-môn chăng? Chị em người há chẳng phải ở giữa chúng ta đây ư?"''. [[Sứ đồ Phaolô|Sứ đồ Phao-lô]], trong thư gởi tín hữu ở Galatia (1: 19), đã viết: ''"nhưng tôi không thấy một sứ đồ nào khác, ngoại trừ James (''Giacôbê'' hoặc ''Gia-cơ'') là em của Chúa"''. Sử gia Do Thái sống vào thế kỷ thứ nhất, [[Josephus]], đã mô tả [[James Người Công chính]] là "em của Giê-su, được gọi là Chúa Cơ Đốc". Hơn nữa, một sử gia Cơ Đốc, [[Giáo hoàng Êusêbiô|Eusebius]] (trước tác trong [[thế kỷ 4]] nhưng trích dẫn những nguồn tài liệu từ trước nay đã thất lạc) có nhắc đến James Người Công chính là em Chúa Giê-su. Tuy nhiên, [[Epiphanius]] cho rằng họ là "những người con của người vợ trước của Joseph (không có ký thuật nào về sự kiện này)", trong khi [[Giêrôminô|Jerome]] lập luận rằng họ là "anh em họ của Chúa Giê-su". Từ ''adelphos'' trong [[tiếng Hy Lạp]] thường được dịch trong các bản [[Kinh Thánh]] là "anh em" nhưng cũng có thể chỉ các mối quan hệ gia đình, và [[Giáo hội Công giáo Rôma|Công giáo La Mã]] cũng như [[Chính Thống giáo Đông phương]], chấp nhận giáo lý Mary đời đời đồng trinh, cho rằng ''adelphos'' nên được hiểu là người họ hàng hoặc anh em họ.
 
Theo ký thuật của [[Phúc Âm Luca|Phúc âm Luca]],<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Lu-ca%201:36;&version=19; Phúc âm Lu-ca 1: 36]</ref> Mary có họ hàng với Elizabeth, mẹ của [[Gioan Baotixita|Giăng Báp-tít]] (''Gioan Tẩy giả'').
 
== Giáng sinh và Thời thơ ấu ==
[[Tập tin:Gerard van Honthorst 002.jpg|nhỏ|phải|180px|''Các mục tử tìm đến tôn thờ Ấu Chúa'', tranh [[Gerard van Honthorst]]]]
Theo Matthew và Luca, Chúa Giê-su sinh ở [[Bethlehem]] xứ [[Judea]] bởi nữ đồng trinh [[Maria|Mary]], do "quyền năng siêu nhiên" của [[Chúa Thánh Linh]]. Phúc âm Lu-ca thuật lại sự kiện [[thiên sứ]] [[Gabriel]] đến gặp Mary để báo tin cô đã được chọn để mang thai Con [[Thiên Chúa]].<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Lu-ca%201:%2026-38&version=19 Phúc âm Lu-ca 1: 26-38]</ref> Tín hữu Công giáo gọi sự kiện này là [[Lễ Truyền tin]]. Cũng theo Lu-ca, Mary và Joseph, bởi chiếu chỉ của [[Augustus|Caesar Augustus]], phải rời nhà mình ở [[Nazareth]] để trở về quê hương của Joseph thuộc dòng dõi của [[David|Vua David]] để đăng ký vào sổ dân. Sau khi sinh hạ hài nhi Giê-su, hai người phải dùng một máng cỏ làm nôi bởi vì không có chỗ trong quán trọ. Theo Lu-ca 2: 8-20,<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Lu-ca%202:8-20&version=19 Phúc âm Luca 2: 8-20]</ref> một thiên sứ đã loan tin giáng sinh cho những người chăn chiên để họ tìm đến chiêm ngưỡng rồi họ báo tin mừng đến khắp nơi trong vùng. Matthew thuật lại câu chuyện Những nhà thông thái mang lễ vật đến cho hài nhi Giê-su trong cuộc hành trình được hướng dẫn bởi một vì sao mà họ tin là dấu hiệu báo tin giáng sinh của Đấng [[Messiah]] hoặc Vua của dân Do Thái.
 
Tuổi thơ của Chúa Giê-su, theo ký thuật của Tân Ước, trải qua ở thành Nazareth xứ [[Galilee]] sau khi trở về từ [[Ai Cập]], nơi họ tìm đến trú ẩn ngay sau khi hài nhi Giê-su chào đời để tránh cuộc tàn sát của vua [[Herod]]. Việc cậu bé Giê-su cùng cha mẹ lên Đền thờ ở [[Jerusalem]], bị thất lạc và được cha mẹ tìm thấy,<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Lu-ca%202:41%20-%2052;&version=19; Phúc âm Luca 2: 41-52]</ref> là sự kiện duy nhất trong quãng đời của Chúa Giê-su từ lúc niên thiếu đến khi trưởng thành được ký thuật trong các sách Phúc âm, mặc dù trong các thứ kinh có nhiều chi tiết khác được thêm vào.
== Báp têm và chịu cám dỗ ==
 
Phúc âm Mark bắt đầu với sự kiện Chúa Giê-su chịu [[thanh Tẩy|báp têm]] (phép rửa) bởi Giăng Báp-tít (''Gioan Tẩy giả''), được các học giả [[Kinh Thánh]] xem là điểm khởi đầu thánh chức của ngài trên đất. Theo ký thuật của Mark, Chúa Giê-su đến sông Jordan, nơi Giăng Báp-tít vẫn giảng dạy và làm báp têm cho đám đông. Sau khi Chúa Giê-su chịu lễ báp têm và bước lên khỏi nước thì, theo lời thuật của Mark, ''"Ngài thấy các từng trời mở ra, và Chúa Thánh Linh ngự xuống trên Ngài như chim bồ câu. Lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con Yêu dấu của ta đẹp lòng ta mọi đường”'' (Mark 1: 10-11). Lu-ca bổ sung những chi tiết tuần tự kể rằng Giăng Báp-tít khởi sự giảng dạy vào năm thứ 15 đời [[Tiberius Ceasar]] (khoảng năm 28 CN.), và Chúa Giê-su chịu lễ báp têm lúc ngài khoảng ba mươi tuổi.<ref>''"Khi Chúa Giê-su khởi sự làm chức vụ mình thì Ngài độ ba mươi tuổi."'' – Phúc âm Lu-ca 3: 23</ref> Matthew bổ sung cho các ký thuật khác chi tiết Giăng từ chối làm lễ báp têm cho Chúa Giê-su, nói rằng chính Chúa Giê-su mới là người xứng đáng cử hành lễ báp têm cho Giăng. Tuy nhiên, Chúa Giê-su nhấn mạnh rằng việc ngài chịu lễ báp têm là để ''"làm trọn mọi việc công bình"''.<ref>''"Khi ấy, Chúa Giê-su từ xứ Ga-li-lê đến cùng Giăng tại sông Jordan, đặng chịu người làm phép báp têm. Song Giăng từ chối mà rằng: Chính tôi cần phải chịu Ngài làm phép báp têm, mà Ngài trở lại đến cùng tôi sao! Chúa Giê-su đáp rằng: Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta nên làm trọn mọi việc công bình như vậy. Giăng bèn vâng lời Ngài."'' – Phúc âm Matthew 3: 13 – 15</ref> [[Phúc Âm John|Phúc âm Giăng]] tập chú vào lời chứng của Giăng Báp-tít nhìn thấy Chúa Thánh Linh như chim bồ câu đậu trên mình Chúa Giê-su, và nhận biết ngài là "Chiên con của Thiên Chúa", và là Chúa Cơ Đốc (nghĩa là đấng chịu xức dầu để trị vì).
 
Theo ký thuật của Phúc âm Matthew, sau khi chịu lễ báp têm, Chúa Thánh Linh đưa Chúa Giê-su vào hoang mạc, ở đó ngài kiêng ăn trong bốn mươi ngày đêm. Ma quỷ hiện ra và cám dỗ Chúa Giê-su bày tỏ quyền năng siêu nhiên để chứng minh ngài chính là [[Thiên Chúa]], nhưng ngài đã khước từ và thắng sự cám dỗ của ma quỷ bằng cách trưng dẫn lời Kinh Thánh từ sách [[Phục truyền Luật lệ ký]] (Đệ nhị Luật). Cả thảy, ma quỷ tìm đến cám dỗ ngài ba lần. Các sách Phúc âm thuật lại rằng, sau khi chịu thất bại, ma quỷ bỏ đi và các thiên sứ đến để hầu việc Chúa Giê-su.
Theo các sách Phúc âm, Chúa Giê-su là Đấng Messiah, ''"Con Thiên Chúa"'', ''"Chúa và Thiên Chúa"''. Ngài đến để ''"phó mạng sống mình làm giá chuộc nhiều người"'' và ''"giảng tin mừng của Nước Trời"''. Các sách Phúc âm cũng thuật lại rằng Chúa Giê-su đi khắp nhiều nơi để rao giảng tin lành và làm nhiều phép lạ như chữa bệnh, đuổi quỷ, đi trên mặt nước, hóa nước thành rượu, và khiến kẻ chết sống lại như trong câu chuyện của [[Lazarus]].<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?book_id=50&chapter=11&version=19 Phúc âm Giăng 11: 1 – 44]</ref>
 
[[Phúc Âm John|Phúc âm Giăng]] ghi nhận ba kỳ lễ Vượt qua trong thời gian Chúa Giê-su thi hành thánh chức. Điều này ngụ ý thời gian Chúa Giê-su rao giảng Phúc âm kéo dài ba năm. Mặc dù có nhiều môn đồ, Chúa Giê-su rất gần gũi với [[Mười hai sứ đồ|Mười hai Sứ đồ]]. Có những đám đông khổng lồ lên đến hàng ngàn người tìm đến nghe ngài giảng dạy. Dù không được tôn trọng ở quê nhà,<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?book_id=48&chapter=6&version=19 Phúc âm Mark 6: 4-6]</ref> và ở Perea (thuộc phía tây sông Jordan), ngài được đặc biệt trọng vọng trong xứ [[Galilee]] (phía bắc Israel).
 
Một trong những bài thuyết giáo nổi tiếng nhất của Chúa Giê-su là [[Bài giảng trên núi]],<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%205-7;&version=19; Phúc âm Matthew 5-7]</ref> trong đó có [[Các Phước Lành]] và bài [[Cầu nguyện chung]] (Kinh Lạy Cha). Chúa Giê-su khuyên bảo tránh xa sự giận dữ, dâm dục, chớ ly dị, thề nguyền và báo thù; tôn trọng và tuân giữ [[Luật pháp Moses]]. Theo ghi chép trong Phúc âm Matthew, Chúa Giê-su nói: ''"Các ngươi đừng tưởng Ta đến đặng bãi bỏ luật Mô-sê hay là lời các ngôn sứ; ta đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn"''.,<ref>''"Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn. Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn. Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ trong nào trong những điều răn này, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước [[thiên đàng]]; còn như ai giữ những điều răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong nước thiên đàng"'' – Phúc âm Matthew 5: 17-19</ref> Trong khi diễn giải luật [[Moses (Kinh Thánh)|Moses]], Chúa Giê-su truyền dạy môn đồ ''"điều răn mới"'' và khuyên họ ''"nếu ai vả má bên hữu ngươi, hãy đưa má bên kia"'', hãy yêu kẻ thù và cần tuân giữ tinh thần của luật pháp chứ không phải mù quáng theo văn tự.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%205;&version=19; Phúc âm Matthew 5]</ref>
 
Chúa Giê-su thường dùng dụ ngôn khi giảng dạy, như chuyện kể về [[Dụ ngôn Đứa con hoang đàng|Người con trai hoang đàng]] (Lu-ca 15: 11-32),<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Lu-ca%2015:%2011-32&version=19 Phúc âm Lu-ca 15: 11-32]</ref> và câu chuyện [[Dụ ngôn Người gieo giống|Người gieo giống]].<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2013:1-9;&version=19; Phúc âm Matthew 13: 1-9]</ref> Giáo huấn của ngài tập chú vào tình yêu vô điều kiện và thấm nhuần tinh thần hi sinh đối với Thiên Chúa và đối với mọi người.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2022:34-40;&version=19; Phúc âm Matt 22: 34-40]</ref> Chúa Giê-su cũng dạy về tinh thần phục vụ và đức khiêm nhường cũng như lòng bao dung khoan thứ, sống hòa bình, [[Đứcđức tin Kitô Đốcgiáo|đức tin]], và ơn thừa hưởng sự sống vĩnh cửu trong "Vương quốc Thiên Chúa". Chúa Giê-su loan báo những sự kiện sẽ xảy ra, và tiên báo về sự tận cùng của thế giới, là điều sẽ đến cách bất ngờ; do đó, nhắc nhở những người theo ngài hãy luôn tỉnh thức và trung tín trong đức tin. [[Bài giảng trên núi Olive]], được chép trong Phúc âm Matthew 24,<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2024;&version=19; Phúc âm Matthew 24]</ref> Mark 13,<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Mark%2013;&version=19; Phúc âm Mark 13]</ref> và Lu-ca 21<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Luke%2021;&version=19; Phúc âm Lu-ca 21]</ref> cung cấp nhiều chi tiết về sự kiện này.
 
Trong giáo huấn của Chúa Giê-su có những điều xem ra là nghịch lý đối với thế gian nhưng phù hợp với lẽ công bình của Thiên Chúa như lời cảnh báo ''"kẻ đầu sẽ nên rốt, và rốt sẽ nên đầu"'' cũng như lời dặn dò ''"Ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mà mất sự sống thì sẽ được lại"'' (Matt. 16: 25) và lời khuyên hãy lấy tình yêu thương và lòng hiếu hòa mà đáp trả bạo lực. Giê-su hứa ban sự bình an cho những người tin ngài,<ref>''"Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi"'' – Phúc âm Giăng 14: 27</ref> và giải quyết mọi nan đề họ đối diện trong cuộc sống<ref>''"Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ"'' - Phúc âm Matthew 11: 28</ref> song Chúa Giê-su cũng cảnh báo rằng sẽ có sự phân rẽ khiến các thành viên trong gia đình chống nghịch nhau (vì bất đồng về niềm tin).<ref>''"Ta đã đến quăng lửa xuống đất; nếu cháy lên rồi, ta còn ước ao chi nữa! Có một phép báp têm mà ta phải chịu, ta đau đớn biết bao cho đến chừng nào phép ấy được hoàn thành! Các ngươi tưởng ta đến đem sự bình an cho thế gian sao? Ta nói cùng các ngươi, không nhưng thà đem sự phân rẽ. Vì từ nay về sau, nếu năm người ở chung một nhà, thì sẽ phân li nhau, ba người nghịch cùng hai, hai người nghịch cùng ba; cha nghịch cùng con trai, con trai nghịch cùng cha; mẹ nghịch cùng con gái, con gái nghịch cùng mẹ; bà gia nghịch cùng dâu, dâu nghịch cùng bà gia"'' - Phúc âm Lu-ca 12: 49-53</ref>.
 
[[Tập tin:First century palestine.gif|nhỏ|230px|phải|Xứ Judaea và Xứ Galilee trong thời Chúa Giê-su]]
Chúa Giê-su sống gần gũi với những người bị xã hội khinh rẻ như giới thu thuế (nhân viên thuế vụ của [[Đế quốc La Mã|Đế chế La Mã]], thường bị khinh miệt vì lợi dụng chức quyền để nhũng nhiễu), trong đó có Matthew (về sau là một trong [[Mười hai sứ đồ|Mười hai Sứ đồ]]); khi người Pharisee chỉ trích Giê-su vì thường tiếp xúc với kẻ [[tội lỗi]], Chúa Giê-su đáp lại rằng chỉ có người bệnh mới cần đến thầy thuốc, không phải người khỏe mạnh hoặc tưởng mình là khỏe mạnh,<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%209:9-13;&version=19; Phúc âm Matthew 9: 9-13]</ref> ''"Hãy đi và học cho biết câu này nghĩa là gì: Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của tế lễ. Vì ta đến đây không phải để kêu kẻ công bình, song kêu kẻ có tội"''. (Matt. 9: 13). Theo Lu-ca và Giăng, Chúa Giê-su tìm đến để rao giảng phúc âm cho cộng đồng Samaria (những người theo một hình thức biến dị của [[Do Thái giáo]] và bị người Do Thái xem là tà giáo) cạnh giếng [[Jacob]] tại [[Sychar]]<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=John%204:1-42;&version=19; Phúc âm Giăng 4: 1-42]</ref>
 
Bốn sách Phúc âm đều thuật lại sự kiện Chúa Giê-su được chào đón vinh hiển khi vào thành [[Jerusalem]]. Ấy là trong kỳ lễ Vượt qua (15 Nisan; vào mùa xuân) theo Phúc âm Giăng,<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=John%2012:12-19;&version=19; Phúc âm Giăng 12: 12-19]</ref> họ hô vang ''Hosanna'' để chúc tụng Chúa là Đấng Messiah.
Theo các sách phúc âm đồng quan, Chúa Giê-su dùng bữa cùng các môn đồ, gọi là [[Tiệc Ly]], rồi đến Vườn [[Gethsemane]] để cầu nguyện. Trong bữa tiệc ly, Chúa Giê-su bẻ bánh, dâng lời tạ ơn, đưa bánh cho các môn đồ mà nói rằng ''"Nầy là thân thể ta"''; Rồi lấy chén, tạ ơn, đưa cho các môn đồ mà nói rằng ''"Hết thảy hãy uống đi; vì này là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội"''. Sau cùng, ngài căn dặn môn đồ: ''"Hãy làm điều này để nhớ đến ta"''.
 
Khi đang ở trong vườn Gethsemane, lính La Mã tìm đến vây bắt Chúa Giê-su theo lệnh của [[Tòa Công luận]] (''Sanhedrin'') và thầy thượng tế [[Caiaphas]] (về sau được nhắc đến trong Matthew 26: 65-67<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2026:65-67;&version=19; Phúc âm Matthew 26: 65-67]</ref>). Nhà chức trách quyết định bắt giữ Chúa Giê-su vì xem ngài là mối đe dọa cho quyền lực của họ, vì cách thức Chúa dùng để diễn giải Kinh Thánh và vì Chúa thường vạch trần sự giả trá của họ trong đời sống tôn giáo. Họ tìm cách bắt Chúa Giê-su vào ban đêm hầu tránh bùng nổ bạo loạn vì ngài được dân chúng yêu mến.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Mark%2014:2;&version=19; Phúc âm Mark 14. 2]</ref> Theo các sách Phúc âm, [[Giuđa Ítcariốt|Judas Iscariot]], một trong các sứ đồ, phản bội Chúa Giê-su bằng cách ôm hôn ngài để giúp binh lính có thể nhận diện ngài trong bóng đêm. Một môn đồ, [[Peter]] (''Phêrô'' hoặc ''Phi-e-rơ'') dùng gươm tấn công những kẻ đến bắt giữ Chúa Giê-su, chém đứt tai một người, nhưng theo Phúc âm Luca, Chúa Giê-su chữa lành cho người ấy.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Luke%2022:51;&version=19; Phúc âm Lu-ca 22: 51]</ref> Ngài quay sang quở trách Peter rằng ''"Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm sẽ bị chết vì gươm"'' (Matthew 26: 52). Sau khi Chúa Giê-su bị bắt, các môn đồ tản lạc nhiều nơi để ẩn trốn. Thầy Thượng tế và các trưởng lão tra hỏi Chúa Giê-su ''"Ngươi là Con Thiên Chúa sao?"''; ngài đáp: ''"Chính các người nói ta là Con Ngài"'' (Lu-ca 22: 70-71). Chúa Giê-su bị Tòa công luận buộc tội phạm thượng. Thầy Thượng tế giao ngài cho Tổng đốc La Mã [[Pontius Pilate]] với cáo buộc phản loạn vì cho rằng Giê-su tự nhận mình là Vua dân Do Thái.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2027:11;&version=19; Phúc âm Matthew 27: 11],</ref><ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Mark15:12;&version=19; Phúc âm Mark 15: 12]</ref>
[[Tập tin:Paolo Veronese 010.jpg|nhỏ|trái|200px|Chúa bị đóng đinh, tranh [[Paolo Veronese]], thế kỷ 16th.]]
Khi Pilate hỏi Chúa Giê-su ''"Có phải ngươi là Vua của dân Do Thái không?"'', ngài trả lời: ''"Thật như lời ngươi nói"''. Theo các sách phúc âm, Pilate nhận biết Chúa Giê-su không phạm tội gì chống nghịch chính quyền La Mã, vì vậy theo tập tục, vào dịp lễ Vượt qua tổng đốc La Mã sẽ phóng thích một tù nhân, Pilate yêu cầu đám đông chọn giữa Giê-su người Nazareth và một kẻ phiến loạn tên [[Barabbas]]. Đám đông, theo sự xúi giục của giới lãnh đạo Do Thái, muốn Barabbas được tha và Giê-su bị đóng đinh. Theo Phúc âm Matthew, Pilate rửa tay mình để bày tỏ rằng ông vô tội trong quyết định này.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2027:11-26;&version=19; Phúc âm Matthew 27: 11-26]</ref> Pilate, vì cố xoa dịu cơn phẫn nộ của đám đông, cho đánh đòn Chúa Giê-su. Song đám đông tiếp tục đòi hỏi Giê-su phải bị đóng đinh. Trong cơn cuồng nộ, họ gào thét, "Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự," và khẳng định trách nhiệm của họ về cái chết của Giê-su, "Huyết nó sẽ đổ lại trên chúng tôi và con cái chúng tôi!".<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2027:%2021-26;&version=19; Phúc âm Matthew 27: 21-26]</ref> Cuối cùng Pilate chịu nhượng bộ. Những người lính La Mã đan một mão bằng gai và đặt trên đầu ngài, rồi quỳ xuống mà chế giễu "Mừng Vua dân Do Thái".<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2027:%2027-31;&version=19; Phúc âm Matthew 27: 27-31]</ref>
== Phục sinh và Lên Trời ==
[[Tập tin:Grunewald - christ.jpg|nhỏ|phải|170px|Một họa phẩm thế kỷ 16 miêu tả [[Sự Phục sinh của Chúa Giê-su]] của [[Matthias Grünewald]]]]
Theo các sách Phúc âm, Chúa Giê-su sống lại từ kẻ chết sau ba ngày kể từ khi bị đóng đinh trên cây thập tự. Phúc âm Matthew thuật lại một thiên sứ hiện ra bên ngôi mộ và báo tin sự sống lại của Chúa Giê-su cho những phụ nữ khi họ đến xức xác theo tục lệ. Quang cảnh hiện ra của thiên sứ đã làm các lính canh hôn mê.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2028:2-4;&version=19; Phúc âm Matthew 28: 2-4]</ref> Trước đó, thầy thượng tế và người Pharisee xin Pilate cho lính đến gác mộ vì họ tin rằng các môn đồ sẽ tìm cách cướp xác. Vào buổi sáng phục sinh, Chúa Giê-su hiện ra với [[Maria Madalena|Mary Magdalene]]. Khi Mary nhìn vào ngôi mộ, hai thiên sứ hỏi bà tại sao khóc; và khi bà nhìn quanh, thấy Chúa Giê-su nhưng không nhận ra cho đến khi ngài gọi bà.
 
Theo ký thuật của sách [[Sách Công vụ Tông đồ|Công vụ các Sứ đồ]], Chúa Giê-su hiện ra cho nhiều người tại nhiều địa điểm khác nhau trong suốt bốn mươi ngày. Sau khi sống lại, Chúa Giê-su đến với hai người khách bộ hành đang trên đường đến thành [[Em-mau|Emmaus]]. Khi các môn đồ nhóm lại, Giê-su hiện ra với họ ngay buổi chiều phục sinh. Thư Corinthian thứ nhất, Phúc âm cho người Hebrew, và một số tư liệu cổ khác đều đề cập đến việc hiện ra cho James (''Giacôbe'' hoặc ''Gia-cơ''). Theo Phúc âm Giăng, một môn đồ tên [[Thomas]] tỏ vẻ hoài nghi về [[sự phục sinh của Chúa Giê-su]], nhưng sau khi đặt tay vào vết đâm bên hông, ông thốt lên ''"Lạy Chúa tôi, Thiên Chúa của tôi!"''. Sau đó, Chúa Giê-su đến xứ Galilee và hiện ra với vài môn đồ bên bờ hồ. Sau khi ủy thác cho các môn đồ sứ mạng rao giảng Phúc âm trên khắp đất, Chúa Giê-su về trời, ''"Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, thì được cất lên trong lúc họ đang nhìn xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa"'' (Công vụ 1: 9). Chúa Giê-su hứa trở lại để ứng nghiệm lời tiên tri về sự tái lâm.
 
== Ghi chú ==
986.568

lần sửa đổi