Khác biệt giữa các bản “Cát kết”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Di chuyển 53 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q13085 Addbot)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
[[Tập tin:Stadtroda Sandstein.jpg|nhỏ|phải|250px|Cát kết gần [[Stadtroda]], [[Đức]].]]
'''Cát kết''' (Tiếng anh: [http://en.wikipedia.org/wiki/Sandstone sandstone]) hay '''sa thạch''' (đá cát) là [[đá trầm tích]] vụn cơ học với thành phần gồm các hạt [[cát]] chủ yếu là [[felspat|fenspat]] và [[thạch anh]] được gắn kết bởi xi măng silic, canxi, oxit sắt... Tuỳ theo từng loại xi măng mà cát kết có màu sáng, xám, lục đỏ. Do cát kết thông thường tạo ra các vách đá dễ nhận thấy và các hình khối tự nhiên bằng đá khác nên màu sắc của đá cát có thể coi giống hệt như là màu sắc của khu vực đó. Ví dụ, phần lớn khu vực miền tây [[Bắc Mỹ]] được biết đến là có màu đỏ do đá cát màu đỏ ở đây.
 
Cát kết thông thường tương đối mềm và dễ gia công, vì thế chúng là loại [[vật liệu xây dựng]] và vật liệu lát đường phổ biến. Do độ cứng của các hạt riêng rẽ và tính đồng nhất của kích thước hạt, cũng như bản chất dễ vụn của đá cát nên nó là khoáng chất được ưa chuộng để sản xuất [[đá mài]] (làm sắc lưỡi dao và các dụng cụ khác).
 
Các hình khối tự nhiên bằng đá mà chủ yếu chứa cát kết thông thường cho nước thấm qua và là đủ xốp để lưu trữ một lượng lớn nước, điều này làm cho chúng trở thành [[tầng chứangậm nước|lớp ngậm nước]] quan trọng. Các lớp ngậm nước hạt mịn, chẳng hạn như đá cát, là thích hợp để lọc bỏ các chất gây ô nhiễm từ bề mặt hơn nhiều so với các loại đá có các vết nứt và các kẽ hở như [[đá vôi]] hay các loại đá khác bị nứt nẻ do các hoạt động địa chấn.
 
== Nguồn gốc ==
[[Tập tin:SandstoneUSGOV.jpg|nhỏ|trái|Đá cát xếp thành lớp]]
 
Cát kết là ''đá trầm tích mảnh vụn'' khác với các loại đá ''hữu cơ'', như [[đá phấn]] hay [[than (định hướng)|than]]. Chúng được tạo thành từ các hạt bị gắn kết mà các hạt này lại có thể là các mảnh vỡ của đá đã tồn tại trước đó hoặc là đơn tinh thể của các khoáng vật. Các chất kết dính hay còn gọi là xi măng gắn kết có tác dụng gắn các hạt này với nhau chủ yếu là [[canxit]], các khoáng vật [[tia sét|sét]] và các khoáng vật [[silic điôxít|silica]]. Kích thước các hạt cát trong đá cát nằm trong khoảng 0,1 mm tới 2 mm. Các loại đá với kích thước hạt nhỏ hơn, bao gồm [[bột kết]] và [[sét kết]]. Các loại đá có kích thước hạt lớn hơn, bao gồm đá [[dăm kết]] và [[sỏi kết]] và được gọi chung là ''[[cuội kết]]''.
 
Cát kết được hình thành qua hai giai đoạn. Đầu tiên là quá trình lắng đọng các hạt cát thành các lớp trầm tích. Các trầm tích cát này có thể được lắng đọng trong các môi trường như sông, hồ, biển hay không khí. Sau khi lắng đọng, các hạt cát bị nén ép bởi các lớp đất nằm bên trên và được liên kết với nhau bởi các vật liệu khác (xi măng) lắng đọng cùng lúc với chúng. Các loại xi măng phổ biến nhất là [[silic điôxít|silica]] và [[canxi cacbonat|cacbonat canxi]] vì chúng được tạo ra từ sự hòa tan hoặc thay thế của cát khi chúng bị chôn vùi.
 
Môi trường trầm tích sẽ quyết định các đặc trưng của đá cát được tạo ra như ''kích thước hạt'', ''độ chọn lọc'', ''thành phần'' ở mức độ vi mô (kiến trúc) và cấu tạo của đá ở mức độ vĩ mô như tính phân lớp... Các môi trường chủ yếu của quá trình trầm tích là môi trường lục địa (lục nguyên) và môi trường biển, được chia ra thành các nhóm chủ yếu sau:
 
Cát kết được phân thành một số nhóm chính dựa trên thành phần khoáng vật và cấu trúc như sau:
* Cát kết ''acco'', có hàm lượng [[felspat|fenspat]] lớn hơn >25%. Độ mài tròn và chọn lọc kém so với cát kết thạch anh. Các loại đá cát kết giàu fenspat thường có nguồn gốc từ sự phong hóa cơ học hoặc phong hóa hóa học các đá [[đá hoa cương|granit]] và [[đá biến chất]].
* Cát kết ''thạch anh'', có hàm lượng thạch anh trên >90%, có độ mài tròn và chọn lọc tốt. Cát chỉ toàn thạch anh thường được hình thành trong môi trường xa nguồn cung cấp thạch anh, do thạch anh là một khoáng vật bền nhất. Đôi khi cát kết thuộc loại này được gọi là cát kết "[[Quartzit|dạng quartzit]]", ví dụ Quartzit Tuscarora của các khu vực thuộc [[dãy núi]] [[Anpơ|An pơ]].
* Cát kết ''lithic'' được hình thành từ các mảnh vụn của các đá hạt mịn như [[đá phiến sét]], [[đá núi lửa]] và đá biến chất hạt mịn.
* Đá xám ''greywacke'', là gồm các mảnh vụn đá, thạch anh và fenspat góc cạnh. Các hạt này thường được bao bọc bên ngoài bởi cấu trúc hạt mịn giống sét phong hóa từ [[đá phiến sét]] và một số [[đá núi lửa]]
* Cát kết ''Aeolian'' là loại đá thường được hình thành từ trầm tích gió trong môi [[hoang mạc|sa mạc]].
* Đá dholpur màu be, rajpura màu hồng, marson màu đồng và khatu màu gỗ tếch là một số loại đá cát.
 
986.568

lần sửa đổi