Khác biệt giữa các bản “Võ sĩ đạo”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Di chuyển 42 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q183738 Addbot)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
{{chú thích trong bài}}
'''Võ sĩ đạo''' ([[tiếng Nhật]]: 武士道 | ''Bushido'') là những quy tắc đạo đức mà các [[tầng lớp võ sĩ Nhật Bảnsamurai|võ sĩ]] ở [[Nhật Bản]] [[trung Cổ|thời trung cổ]] phải tuân theo. Võ sĩ đạo hình thành từ [[thời kỳ Kamakura]] và hoàn chỉnh vào [[thời kỳ Edo]].
 
Ngày nay, từ võ sĩ đạo mang hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất chỉ một tư tưởng có thật vào thời trung cổ và thời cận đại của Nhật Bản. Nghĩa thứ hai chỉ bản sắc của Nhật Bản thời hiện đại khi so sánh với các nước khác.
Kể từ khi tầng lớp võ sĩ hình thành, ý thức về sự trung thành mang tính đạo đức đối với chủ khá thấp, chứ không phải là phạm trù trung tâm của võ sĩ đạo như sau này. Thời trung cổ, quan hệ chủ tớ là thứ quan hệ hợp đồng giữa hai bên, bởi vì "phục vụ" được hiểu là cái giá trả cho "ân huệ". Ít ra, cho đến cuối [[thời kỳ Muromachi]], những cách suy nghĩ mà đời sau thường có như "phản bội là đáng khinh", "võ sĩ phải sinh tử cùng chủ", vẫn chưa phải là trọng tâm.
 
Bắt đầu từ đầu [[thế kỷ 17|thế kỷ XVII]], khi đạo đức Tống Nho được truyền bá vào Nhật Bản, thì quan niệm đạo đức như trên mới được xác lập như một khái niệm trong "đạo của kẻ sĩ". Từ đây, các đạo đức Nho giáo (nhân nghĩa, trung hiếu, v.v...) mới trở thành những quy tắc được yêu cầu ở võ sĩ.
 
== Võ sĩ đạo thời Minh Trị ==
Sau cuộc [[Minh Trị Duy tân|Minh Trị Duy Tân]], cùng với sự tuyên bố bốn tầng lớp võ sĩ - công - nông - thương đều bình đẳng, tầng lớp võ sĩ ở Nhật Bản đã suy giảm. Năm [[1882]], luật quân nhân yêu cầu quân nhân phải mang Tinh thần Nhật Bản đối với [[Thiên hoàng]], chứ không phải là mang tinh thần võ sĩ đạo. Tuy nhiên, từ sau [[chiến tranh Thanh-Nhật]], võ sĩ đạo được nhắc lại.
 
== Tài liệu tham khảo ==
* [[Seppuku]]
* [[Trà đạo]]
* [[Bốn mươi bảy Ronin|Câu chuyện về Bốn mươi bảy Ronin]]
 
== Liên kết ngoài ==
986.568

lần sửa đổi