Khác biệt giữa các bản “Vụ Dreyfus”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Di chuyển 1 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q173457 Addbot)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
[[Tập tin:Degradation alfred dreyfus.jpg|nhỏ|alt=Au milieu d'une cérémonie militaire, Alfred Dreyfus se tient droit en uniforme vierge de tout insigne. Ses insignes et son fourreau sont à ses pieds, et en face de lui, un adjudant est en train de casser son sabre en deux sur son genou.|[[Alfred Dreyfus]] bị giáng chức, ngày 5 tháng 1 năm 1895. Tranh của [[Henri Meyer]] trên trang bìa của tờ ''[[Le Petit Journal|Petit Journal]]'' ngày 13 tháng 1 năm 1895, với ghi chú « Kẻ phản bội »<ref>Xem [http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k7161044 mẫu hoàn chỉnh trên [[Gallica]]]</ref>.]]
 
'''Vụ Dreyfus''' là một cuộc xung đột chính trị-xã hội nghiêm trọng của [[Đệ tam Cộng hòa Pháp|Đệ tam cộng hòa Pháp]] vào cuối [[thế kỷ 19]], xoay quanh cáo buộc tội phản quốc đối với [[đại úy]] [[Alfred Dreyfus]], một người [[Pháp]] gốc [[Alsace]] theo [[Do Thái giáo]], người cuối cùng được tuyên bố vô tội. Nó đã khuấy đảo xã hội một cách sâu sắc trong suốt 12 năm(1895-1906), trong đó hầu như toàn thể các giới trong xã hội Pháp chia thành hai phe ủng hộ Dreyfus (''dreyfusard'') và chống Dreyfusard (''anti-dreyfusard'') và dẫn đến nhiều hệ lụy với nước Pháp về sau.
 
Bản kết án cuối năm 1894 đối với đại úy Dreyfus — về tội để lộ những tài liệu bí mất của Pháp cho [[Đếđế chếquốc Đức|người Đức]] - là một sai lầm tư pháp<ref>Thậm chí là một « vi phạm tư pháp » theo [[#Bredin|Bredin, ''L’Affaire'']], Fayard, 1984 và [[#DuclertBio|Vincent Duclert, ''Biographie d’Alfred Dreyfus'']], Fayard, 2006</ref><ref>Đọc thêm [http://www.presse.justice.gouv.fr/index.php?rubrique=10093&ssrubrique=10094&article=11255 diễn văn] của Bộ trưởng Tư pháp Pháp,[[Pascal Clément]], ngày 12 tháng 6 năm 2006</ref> có nguồn gốc từ nỗi sợ gián điệp trong bối cảnh niềm căm thù của người Pháp với người Đức sôi sục sau cuộc [[chiến tranh Pháp-Phổ]] năm 1871 và từ [[chủ nghĩa bài Do Thái]], hai nét nổi bật trong tâm lý xã hội Pháp đương thời. Sự phanh phui [[vụ bê bối]] năm 1898, bởi [[Émile Zola]] trên bài báo tựa đề « [[Tôi kết tội...!]] » (''J'Accuse...!''), đã gây ra một chuỗi những cuộc khủng hoảng chính trị và xã hội có một không hai ở [[Pháp]]. Ở cực điểm vào năm 1899, vụ bê bối đã bộc lộ những rạn nứt trong nước Pháp dưới nền [[Đệ Tamtam Cộng hòa Pháp|Đệ tam cộng hòa]], khi mà sự tranh cãi giữa hai phe đã dẫn tới những cuộc luận chiến hết sức gay gắt về [[chủ nghĩa dân tộc]] và [[chủ nghĩa bài Do Thái]]. Nó chỉ thực sự chấm dứt vào năm 1906 khi một bản án của [[Tối cao pháp viện Pháp]] minh oan và phục hồi danh dự hoàn toàn cho Dreyfus.
 
Vụ bê bối này là biểu tượng hiện đại và phổ biến về sự bất công<ref>Guy Canivet, Chánh án Tối cao Pháp viện Pháp,''Về Công lý trong Vụ Dreyfus'']], tr.15.</ref> dưới danh nghĩa [[lợi ích quốc gia]], và lưu lại một ví dụ rõ ràng nhất về một sai lầm tư pháp khó sửa chữa, với một vai trò quan trọng của [[báo chí]] và [[dư luận]].
Một ít người không tán đồng bản án, trước hết là người anh trai Mathieu, rồi đến gia đình Dreyfus, đã cố gắng chứng minh sự vô tội của ông, sau được hưởng ứng bởi nhà báo [[Bernard Lazare]]. Đồng thời, [[trung tá]] [[Marie-Georges Picquart|Georges Picquart]], người chỉ đạo vụ phản gián, khẳng định vào tháng 3 năm 1896 rằng kẻ phản bội thực sự phải là thiếu tá [[Ferdinand Walsin Esterházy]]. Tuy nhiên, bộ tham mưu từ chối xem xét lại quyết định của mình và thuyên chuyển Picquart tới Bắc Phi.
 
Để thu hút sự chú ý về sự yếu ớt trong các bằng chứng chống lại Dreyfus, tháng 7 năm 1897 gia đình ông đã liên hệ với chủ tịch danh dự của [[QuốcHạ hộiviện Pháp|Thượng viện]] [[Auguste Scheurer-Kestner]] người đã thông cáo, sau đó ba tháng, ông đã chịu thuyết phục rằng Dreyfus vô tội, và cũng đã đồng thời thuyết phục [[Georges Clemenceau]], một cựu nghị viên và nhà báo. Cùng tháng đó, Mathieu Dreyfus khiếu nại chống Walsin-Esterházy lên Bộ Chiến tranh. Khi phạm vi những người ủng hộ Dreyfus bắt đầu mở rộng, hai sự kiện xảy ra vào tháng Giêng năm 1898 làm cho vụ việc trở nên có quy mô quốc gia: Esterházy được tha bổng, dưới sự ủng hộ của những người bảo thủ và những người dân tộc chủ nghĩa; và [[Émile Zola]] đăng bài « [[Tôi buộc tội ...!]] »(J'Accuse...!) biện hộ cho phe ủng hộ Dreyfus(dreyfusard) đã lôi kéo được rất nhiều nhà trí thức. Một quá trình chia cắt nước Pháp bắt đầu, điều còn kéo dài cho đến hết thế kỷ. Các cuộc bạo động [[chủ nghĩa bài Do Thái|bài Do Thái]] bùng phát ở trên 20 thành phố nước Pháp, và người ta ghi nhận nhiều người đã thiệt mạng ở tỉnh [[Algiers|Alger]]. Nền Cộng hòa bị chấn động, một số người thậm chí tin rằng nó đang lâm nguy và nỗ lực tìm cách chấm dứt vụ Dreyfus để vãn hồi sự ổn định.
 
Bất chấp mưu mô của quân đội muốn làm sự việc chìm xuống, bản án kết tội Dreyfus đâu tiên bị hủy bỏ bởi Tòa Thượng thẩm sau một cuộc điều tra kỹ lưỡng và một tòa án binh mới được thành lập ở [[Rennes]] năm [[1899]]. Trái với mọi mong đợi, Dreyfus bị kết án một lần nữa, mười năm lao động khổ sai với, dù sao, những tình tiết giảm nhẹ. Kiệt sức với đợt đi đày 4 năm trời, Dreyfus đã chấp nhận lệnh đặc xá của Tổng thống [[Émile Loubet]]. Phải đến năm [[1906]] sự vô tội của ông mới được thừa nhận cính thức thông qua một án quyết không chiếu xét của Tối cao Pháp viện<ref>[http://www.courdecassation.fr/IMG/File/arret_dreyfus_12_juillet_1906.pdf Arrêt de la cour de cassation du 12 juillet 1906]</ref>. Được phục hồi danh dự, đại úy Dreyfus trở lại quân ngũ với quân hàm [[thiếu tá]] và tham gia vào [[Chiến tranh thế giới thứ nhất|Thế chiến I]]. Ông mất năm 1935.
 
Những hậu quả của vụ bê bối này là không kể hết và động chạm tới mọi khía cạnh trong đời sống công chúng Pháp: chính trị(nó cống hiến thắng lợi cho nền cộng hòa và trở thành một thứ huyền thoại lập quốc<ref>[[Michel Winock]], « Vụ Dreyfus như một huyền thoại lập quốc », trong ''La France politique'', Éditions du Seuil, coll. « Points Histoire », 2003, p.151-165</ref> (''mythe fondateur'') khi làm sống dậy [[chủ nghĩa dân tộc]], quân sự, tôn giáo(nó đã kéo chậm lại cuộc cải cách [[Công giáo]] ở Pháp, cũng như sự dung hợp vào nền cộng hòa của những người Công giáo), xã hội, tư pháp, truyền thông, ngoại giao và văn hóa (chính trong thời kỳ này mà thuật ngữ ''giới [[trí thức]]''(''intellectuel'') đã ra đời). Vụ việc cũng có tác động tới quốc tế với phong trào phục quốc Do Thái thông qua một trong những người sáng lập,[[Théodore Herzl]], và bởi những cảm xúc do những cuộc biểu tình bài Do Thái gây nên trong cộng đồng [[người Do Thái]] ở Tây và Trung Âu.
==Bối cảnh vụ Dreyfus==
===Bối cảnh chính trị===
Năm [[1894]], nền Đệ tam Cộng hòa Pháp đã được 23 năm tuổi, và đã trải qua tới ba cuộc khủng hoảng ([[Georges Boulanger|chủ nghĩa Boulanger]] năm 1889, [[vụ bê bối Panama]] năm 1892, và nguy cơ [[chủ nghĩa vô chính phủ|vô chính phủ]] phản ánh trong một chuỗi đạo luật những năm 1893-1894) chỉ củng cố nó thêm. Các cuộc bầu cử năm 1893, tập trung vào ''câu hỏi xã hội'', đã đem lại chiến thắng cho những người phái cộng hòa(hơn một nửa số ghế trên tổng số hơn 500 ghế nghị viện) trước phái hữu bảo thủ, cũng như trước những người cấp tiến(khoảng 150 ghế) và những người xã hội chủ nghĩa(33 ghế)<ref>[http://www.roi-president.com/elections_legislatives/legislatives_1893.php Roi et President]</ref>
 
Phe đối lập của những người cấp tiến và xã hội chủ nghĩa thúc đẩy việc cai trị vào trung tâm nơi các lựa chọn chính trị định hướng theo chủ nghỉa bảo hộ kinh tế, một sự thờ ơ rõ ràng đối với câu hỏi xã hội, một sự sẵn sàng để phá vỡ sự cô lập quốc tế, với đồng minh Nga và với sự phát triển của Đế quốc Pháp. Chính sách trung tâm này đã gây nên sự bất ổn nội các, một số những người phe cộng hòa trong chính phủ đôi khi
bắt tay với những người cấp tiến, khi thì các nhóm bảo hoàng bắt tay với nhau (những người ủng hộ [[Louis-Philippe I của Pháp|Công tước Orléans]],''orleanistes'', và những người phái chính thống-tức những người ủng hộ [[nhà Bourbon]]-''légitimistes''), và năm nội các đã thay nhau từ 1893 tới 1896. Sự bất ổn nội các nhân đôi sự mong manh của ghế tổng thống: [[Sadi Carnot (định hướng)|Sadi Carnot]] bị ám sát 24 tháng 6 năm 1894, người kế nhiệm [[Jean Casimir-Perier]] cũng từ nhiệm ngày 15 tháng 1 năm 1895 và được thay thế bởi [[Felix Faure]].
 
Sau sự sụp đổ của nội các cấp tiến của [[Léon Bourgeois]] năm 1896, Tổng thống Faure chỉ định [[Jules Méline]], một người theo chủ nghĩa bảo hộ dưới thời [[Jules Ferry]]. Nội các này đóng vai trò đối lập với cánh tả và một số người cộng hòa(nhất là ''Liên minh những người tiến bộ'' ) và hành động luôn nhận được sự ủng hộ của cánh hữu. Rất ổn định, nó đã làm giảm bớt các căng thẳng về tôn giáo(kìm hãm cuộc đấu tranh chống tăng lữ), xã hội(thông qua luật về trách nhiệm trong tai nạn lao động) và kinh tế(duy trì chính sách bảo hộ thương mại) bằng việc dẫn dắt một nền chính trị hơi bảo thủ. Chính dưới nội các ổn định này lại bùng phát thật sự vụ Dreyfus<ref>Với ba đoạn này, tham khảo Jean-Marie Mayeur, ''Những bước đầu của Đệ tam Cộng hòa'', Nhà xuất bản Seuil, 1973, 209-217</ref>.
===Bối cảnh quân đội===
[[Tập tin:Général de Boisdeffre.jpg|nhỏ|Tướng Raoul de Boisdeffre, người gây dựng liên minh quân sự với người [[Nga]]]]
Vụ Dreyfus đã diễn ra trong bối cảnh quân [[ĐếPhổ (quốc Phổgia)|Phổ]] chiếm đóng [[Alsace]] và một phần [[Lorraine]] theo [[Hiệp ước Frankfurt]] năm 1871, nguồn cơn nuôi dưỡng những người dân tộc chủ nghĩa cực đoan nhất.Tổn thương tinh thần từ [[Chiến tranh Pháp-Phổ|cuộc chiến năm 1870]] có vẻ đã xa xôi, nhưng tinh thần phục hận vẫn luôn hiện hữu.Nhiều vai chính trong vụ Dreyfus người sinh trưởng ở vùng Alsace.<ref>Dreyfus là người [[Mulhouse]],Picquart là một người [[Strasbourg]], Zurlinden là người [[Colmar]](đều thuộc Alsace).</ref> Các nhà quân sự đòi hỏi những cách thức đáng kể để chuẩn bị cho cuộc xung đột tiếp theo, và chính dưới tinh thần này mà mối liên minh Pháp-Nga « phản tự nhiên »<ref>Auguste Scheurer-Kestner trong một bài phát biểu trước Thượng viện.</ref> được thành lập ngày 27 tháng 8 năm 1892 với một hiệp ước quân sự. Quân đội đã được vực dậy sau thất bại, nhưng các viên chỉ huy của nó vẫn là những nhà quý tộc cũ theo khuynh hướng quân chủ, thành thử sự sùng bái ngọn cờ và sự khinh bỉ chế độ cộng hòa nghị viện vẫn là hai nguyên lý cơ bản của quân đội Pháp trong thời kỳ ấy<ref>[[#Duclert|Duclert, ''L'affaire Dreyfus'']], p.5</ref>.Trong khi nền Cộng hòa tung hô quân đội, quân đội lại xem thường nền Cộng hòa.
 
Nhưng từ hơn chục năm sau chiến tranh, nền quân đội Pháp cũng có một biến chuyển quan trọng, trong mục tiêu kép về dân chủ hóa và hiện đại hóa. Những sinh viên [[Trường Bách khoa Paris|trường bách khoa]] cạnh tranh một cách hiệu quả với các sĩ quan tiến thân theo con đường quý tộc từ [[Trường quân sự cao cấp Saint-Cyr]], những người gây nên những bất đồng, ghen tỵ trong số những hạ sĩ quan chờ đợi những đợt đề bạt thăng cấp. Thời kỳ này cũng đánh dấu một cuộc chạy đua vũ trang, với những cải tiến liên quan tới hỏa lực nặng(pháo nòng 120 và 155, Mẫu Baquet 1890, và những phanh thủy khí động mới) nhưng đồng thời và nhất là, sự tập trung vào vũ khí tối mật - mẫu nòng 75 ly 1897<ref>Sur la mise au point du canon de 75 : [[#Doise|Doise, ''Un secret bien gardé'']], p.9 et s.</ref>.
Sự kết tội được thừa nhận; từ cánh hữu tới cánh tả, người ta lấy làm tiếc vì án tử hình đã bãi bỏ với tội danh phản quốc, và người ta nhắc lại rằng Dreyfus đã đáng ra có thể bị buộc tội chết một cách thích đáng và khéo léo bằng việc áp dụng Điều 76 Bộ Luật quân sự Pháp. Chủ nghĩa bài Do Thái đạt tới đỉnh điểm trên báo chí và trỗi dậy trong dân chúng còn nín nhịn cho tận khi đó<ref>Reinach, [http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k75082s ''Lịch sử vụ Dreyfus'', tập 1], p.468</ref>. [[Jean Jaurès]] tiếc cho sự nhẹ nhàng của bản án trong một phát biểu ở Hạ viện, viết rằng : « một tay lính gần đây bị xử tử vì ném một cái cúc lên hạ sĩ quan của anh ta. Thế mà sao lại để kẻ phản bội khốn nạn này sống ? » [[Georges Clemenceau|Clemenceau]], trên tờ ''La Justice'' cũng có một nhận xét tương tự<ref>[[Georges Clemenceau|Clemenceau]] viết ngày 25 tháng 12 năm 1894, trên tờ báo trên: "Không ngờ gì, tôi dứt khoát hơn bao giờ là kẻ thù của án tử hình. Nhưng người ta không thể làm công chúng hiểu nỗi người ta đã xử bắn, cách đây vài tuần, một đứa trẻ bất hạnh 20 tuổi về tội ném một cái cúc áo lên đầu vị đứng đầu tóa án binh, trong khi kẻ phản bội Dreyfus sắp tới sẽ đi tới đảo Nou, nơi mong có khu vườn của Candide. » Trích theo [[Michel Winock]], ''Clemenceau'', Perrin, 2007, chương XV, « Mở đầu vụ Dreyfus », p.244</ref>.
 
Ngày 6 tháng Một năm 1895, buổi lễ tước quân hàm diễn ra tại sân Morlan của Trường quân sự Paris: khi tiếng trống vang lên, Dreyfus bị áp giải bởi 4 pháo thủ dẫn đến một người thi hành án đọc án quyết. Một thượng sĩ thuộc lực lượng Cận vệ cộng hòa tước bỏ các huy hiệu, các sợi kim tuyến trên lon, rồi tước bỏ áo khoác. Các nhân chứng ghi nhận phẩm cách của Dreyfus, người tiếp tục bảo vệ sự trong sạch của mình, vung tay lên kêu: "Vô tội, vô tội! Nước Pháp muôn năm! Quân đội muôn năm!". Người thi hành án bẻ gãy thanh gươm kê trên đầu gối sau đó Dreyfus bước chậm rãi trước mặt những đồng đội cũ<ref>Méhana Mouhou, ''Vụ Dreyfus: cuộc mưu phản trong nền Cộng hòa'', Nhà xuất bản L'Harmattan, 2006, p.40</ref>. Một sự kiện, mà người ta đặt tên là "huyền thoại về những lời thú nhận"<ref>[[#Bredin|Bredin, ''L'Affaire'']], p.107</ref>, đã diễn ra trước buổi lễ. Trong xe hòm đi tới Trường quân sự, Dreyfus đã thú nhận sự phản bội của mình với đại úy [[Charles Lebrun-Renault|Lebrun-Renault]]<ref>Dường như chính tả đúng của vị đại úy là Lebrun Renaud, nhưng tập hợp các sử liệu đều chấp nhận tên trên, khiến nó trở nên quá phổ biến. Xem chứng cứ về điều này ở [http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k242524 Phiên tòa Rennes tập 3], p.73</ref>. Có lẽ thực ra thì, viên đại úy Cận vệ Cộng hòa đã phóng đại và Dreyfus chưa từng có hành vi nhận tội nào<ref>Xem [http://fr.wikisource.org/wiki/Arr%C3%AAt_de_la_Cour_de_cassation_du_12_juillet_1906#En_ce_qui_concerne_les_pr.C3.A9tendus_aveux_: án quyết của Tối cao Pháp viện] 12 tháng 7 năm 1906</ref>. Do tính chất vụ án chạm đến an ninh quốc gia, tù nhân giam giữ bí mật trong một căn phòng để chờ chuyển đi. Ngày [[17 tháng Một]], ông được chuyển tới trại giam ở [[Đảo Ré]], nơi ông lưu lại hơn một tháng. Ông có quyền gặp vợ hai lần mỗi tuần, trong một phòng dài, mỗi người một đàu, giám đốc trại giam ở giữa<ref>[[#Bredin|Bredin, ''L'Affaire'']], p.103</ref>. Ngày [[21 tháng 2]], ông lên tàu ''Ville-de-Saint-Nazaire''. Ngày hôm sau, tàu đi về hướng [[Guyane thuộc Pháp|Guyane]].
 
[[Tập tin:Hutte von Dreyfus.jpg|nhỏ|trái|Buồng của Dreyfus ở Đảo Quỷ ở Guyane]]
* [http://www.assemblee-nationale.fr/histoire/Dreyfus/index.asp Trang web Hạ viện Pháp]
 
* [http://gallica.bnf.fr/themes/PolXVIIIIr.htm Trang web [[Thư viện Quốc gia Pháp|Thư viện quốc gia Pháp]]]
 
* [http://www.dreyfus.culture.fr/fr/index.htm Dreyfus được khôi phục danh dự năm 1906]
986.568

lần sửa đổi