Khác biệt giữa các bản “Enver Hoxha”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Di chuyển 49 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q53783 Addbot)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
'''Enver Hoxha''' ({{audio|Sq-Enver Hoxha.ogg|phát âm}}; 16 tháng 10 năm 1908-11 tháng 4 năm 1985) là nhà lãnh đạo của [[Cộng hòa Nhân dân Xã hội chủ nghĩa Albania]] từ năm 1944 cho đến khi qua đời vào năm 1985, với vai trò [[Tổng Bí thư|Bí thư thứ nhất]] của [[Đảng Lao động Albania]]. Ông cũng là chủ tịch của [[Mặt trận Dân chủ (Albania)|Mặt trận Dân chủ Albania]] và là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Albania từ năm 1944 cho đến khi qua đời. Ông cũng cùng từng giữ chức vụ Thủ tướng Albania từ năm 1944 đến 1954 và trong các thời điểm khác nhau, ông cũng từng giữ các chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Quốc phòng.
 
Hoxha tuyên bố rằng mình kiên quyết giữ vững lập trường để [[chủ nghĩa chống xét lại|chống xét lại]] [[chủ nghĩa Marx-Lenin|chủ nghĩa Marx–Lenin]] từ giữa thập niên 1970 trở đi. Sau khi ông [[chia rẽ Trung Quốc-Albania|tuyệt giao]] với [[chủ nghĩa Mao Trạch Đông]] trong giai đoạn 1976–1978, nhiều đảng cộng sản Maoist đã tự tuyên bố rằng họ là [[chủ nghĩa Hoxha|Hoxhaist]]. Hội nghị Quốc tế của các đảng cộng sản và tổ chức Marxist–Leninist (Thống nhất & Đấu tranh) là tập hợp được biết đến nhiều nhất của các đảng này.
 
==Tiểu sử==
Vào tháng 7 năm 1942, Enver Hoxha đã viết "Lời kêu gọi đến giai cấp nông dân Albania" và cho lưu hành dưới tên Đảng Cộng sản Albania.<ref>Enver Hoxha, "Call to the Albanian Peasantry" contained in the ''Sellected Works of Enver Hoxha: Volume I'', pp. 31-38.</ref> Lời kêu gọi được đưa ra để tranh thủ sự ủng hộ tại Albania cho cuộc kháng chiến chống lại những kẻ xâm lược phát xít Ý. Những người nông dân được khuyến khích giữ lại ngũ cốc của họ, từ chối chi trả bất cứ khoản thuế hay phí chăn nuôi nào cho chính quyền phát xít Albania.<ref>Enver Hoxha, "Call to the Albanian Peasantry" contained in the ''Selected Works of Enver Hoxha: Volume I'', p. 36.</ref> Sau Hội nghị tháng 12 năm 1942 tại [[Pezë]], [[Mặt trận Giải phóng Dân tộc Albania|Mặt trận Giải phóng Dân tộc]] được thành lập với mục đích thống nhất những người Albania chống phát xít, bất kể ý thức hệ hay tầng lớp.
 
Tháng 3 năm 1943, Hội nghị Quốc gia đầu tiên của Đảng Cộng sản Albania đã bầu Hoxha làm [[Tổng Bí thư|Bí thư thứ nhất]]. Trong chiến tranh, vai trò của [[Liên Xô]] tại Albania là không đáng kể, khiến Albania trở thành nước duy nhất bị chiếm đóng trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế chiến II]] giành được độc lập mà không dựa trên định đoạt của cường quốc.<ref>[http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=9E06E4D61F38F93BA15757C0A963948260 Of Enver Hoxha And Major Ivanov, ''New York Times'', 28 April 1985]</ref> Ngày 10 tháng 7 năm 1943, các nhóm du kích Albania đã tổ chức thành các đơn vị đại đội, tiểu đoàn và lữ đoàn chính quy với tên gọi Quân đội Giải phóng Dân tộc Albania. Tổ chức này nhận được hỗ trợ quân sự từ cơ quan tình báo Anh, [[MI6|SOE]].<ref>Bernd J Fischer. “Resistance in Albania during the Second World War: Partisans, Nationalists and the S.O.E.”, ''East European Quarterly'' 25 (1991)</ref> Tổng bộ được thiết lập với [[Spiro Moisiu]] là chỉ huy còn Enver Hoxha là chính ủy. Các du kích cộng sản tại [[Nam Tư]] đã có một vai trò lớn trên thực tế, họ giúp đỡ trong các cuộc tấn công và trao đổi vật tư, song thông tin liên lạc giữa họ và người Albania bị hạn chế và các thư tín thường đến muộn, đôi khi một kế hoạch đã được Quân Giải phóng Dân tộc Albania phê chuẩn mà chưa tham khảo được ý kiến từ du kích Nam Tư.
 
==== Bất đồng với những người cộng sản Nam Tư ====
Đại hội Quốc gia Permet đã được tổ chức trong thời điểm đó đã kêu gọi về một "Albania dân chủ mới cho người dân." Vua Zog đã bị cấm không bao giờ được thăm lại Albania, và quyền kiểm soát của cộng sản được tăng cường. Ủy ban chống Phát xít vì Giải phóng Dân tộc đã được thành lập, với chủ tịch là Hoxha. Ngày 22 tháng 10, Ủy ban trở thành [[Chính phủ Dân chủ Albania]] sau cuộc họp tại [[Berat]] và Hoxha được lựa chọn làm Thủ tướng của chính phủ lâm thời. Các tòa án được thiết lập để cố gắng tuyên bố các tội phạm chiến tranh, những người bị định là "[[kẻ thù của nhân dân]]"<ref>O'Donnell, p. 12.</ref> và do [[Koçi Xoxe]] chủ trì.
 
Sau khi giải phóng đất nước khỏi lực lượng chiếm đóng phát xít vào ngày 29 tháng 11 năm 1944, một số đơn vị du kích Albania đã vượt biên giới để sang vùng đất Nam Tư do Đức chiếm đóng, tại đây họ đã chiến đấu cùng với quân du kích của Tito và [[Hồng Quân|Hồng quân]] [[Liên Xô]] trong một chiến dịch chung nhằm đẩy lui các ổ kháng cự cuối cùng của Đức trên đất Nam Tư. Nguyên soái Tito, trong một cuộc họp của Nam Tư vào những năm sau đó, đã cảm ơn Hoxha vì sợ giúp dỡ của quân du kích Albania đối với cuộc Chiến tranh Giải phóng Dân tộc của Nam Tư. [[Mặt trận Dân chủ (Albania)|Mặt trận Dân chủ]] đã kế tục Mặt trận Giải phóng Dân tộc vào tháng 8 năm 1945 và cuộc bầu cử đầu tiên sau chiến tranh đã được tổ chức tại Albania vào ngày 2 tháng 12. Mặt trận là tổ chức chính trị hợp pháp duy nhất được phép tham gia cuộc bầu cử, và chính quyền tuyên bố rằng 93% người dân Albania đã bỏ phiếu cho Mặt trận.<ref>Jacques. p. 433. Miranda Vickers. ''The Albanians: A Modern History''. New York: I.B. Tauris, 2000. p. 164.</ref>
 
Ngày 11 tháng 1 năm 1946, vua Zog chính thức bị phế truất, và Albania tuyên bố trở thành Cộng hòa Nhân dân Albania (đổi tên thành [[Cộng hòa Nhân dân Xã hội chủ nghĩa Albania]] năm 1976). Với vai trò là Bí thư thứ nhất, Hoxha là nguyên thủ quốc gia trên thực tế và là người quyền lực nhất tại đất nước.<ref>{{chú thích sách|author=Taylor & Francis Group|title=Europa World Year|url=http://books.google.com/books?id=wGA4o-UhAfgC&pg=PA441|accessdate=10 January 2012|date=2004-09|publisher=Taylor & Francis|isbn=978-1-85743-254-1|page=441}}</ref>
==Thời kỳ đầu lãnh đạo (1946-65)==
[[Tập tin:Members of the First Democratic Government of Albania.jpg|nhỏ|250px|Hoxha cùng với các thành viên của Chính phủ Dân chủ Lâm thời Albania.]]
Hoxha tuyên bố mình là người [[chủ nghĩa Marx-Lenin|Marxist-Leninist]] và rất thán phục nhà lãnh đạo Liên Xô [[Iosif Vissarionovich Stalin|Joseph Stalin]]. Trong giai đoạn 1945–1950, chính phủ Albania đã thông qua các chính sách nhằm củng cố quyền lực. Luật cải cách ruộng đất đã được thông qua vào tháng 8 năm 1945. Theo luật này, chính phủ sẽ tịch thu đất đai của các [[bey]] và các [[địa chủ]] lớn mà không bồi thường và trao lại nó cho nông dân. 52% toàn bộ đất đai tại Albania do các địa chủ lớn sở hữu trước khi thông quan luật; con số này giảm xuống còn 16% sau khi thông qua luật.<ref>Ramadan Marmullaku, ''Albania and the Albanians'', trans. Margot and Bosko Milosavljević (Hamden, Connecticut: Archon Books, 1975, 93–94.</ref> Về tỷ lệ mù chữ, con số 90–95% tại các vùng nông thôn vào năm 1939 đã giảm xuống còn 30% vào năm 1950 và đến năm 1985 thì con số này đã ngang bằng với các nước phương Tây.<ref>[http://lcweb2.loc.gov/cgi-bin/query/r?frd/cstdy:@field(DOCID+al0059) Library of Congress Country Studies ]</ref>
 
[[Đại học Tirana|Đại học Nhà nước Tirana]] được thành lập vào năm 1957, đây là trường đại học đầu tiên ở Albania. Các [[Gjakmarrja]] (mối thù máu) từ thời [[Trung Cổ]] bị cấm. [[Bệnh sốt rét|Sốt rét]] là bệnh phổ biến nhất tại Albania,<ref>Gjonça, Arjan. ''Communism, Health, and Lifestyle: The Paradox of Mortality Transition in Albania, 1950–1990''. Connecticut: Greenwood Press, 2001., p. 15. "20.1% of the population was infected."</ref> song chính phủ cộng sản đã thành công trong cuộc chiến nhằm chăm sóc sức khỏe của người dân, họ đã sử dụng [[DDT]], và tiêu thoát các bãi lầy. Năm 1985, không còn thấy một trường hợp nào bị sốt rét trong khi hai mươi năm trước thì Albania là nước có số người mắc bệnh này nhiều nhất tại châu Âu.<ref name="Cikuli, p. 33">Cikuli, ''Health Care in the People's Republic of Albania'', p. 33.</ref> Cũng không ghi nhận trường hợp nào bị bệnh [[giang mai]] trong 30 năm.<ref name="Cikuli, p. 33"/> Đối với sự phân chia Gheg-Tosk, các sách được biết bằng phương ngữ Tosk, và phần lớn đảng viên đến từ miền nam Albania, tức nơi nói phương ngữ Tosk.
 
Năm 1949, các cơ quan tình báo Hoa Kỳ và Anh đã làm việc với vua [[Zog của Albania|Zog]] và các cận vệ của ông ta. Họ tuyển dụng những người Albania tị nạn và di cư từ Ai Cập, Ý, Hy Lạp, huấn luyện họ tại [[Cộng hòa Síp|Síp]], [[Malta]] và [[Tây Đức]], và đưa họ thâm nhập vào Albania. Các đơn vị du kích tiến vào Albania vào năm 1950 và 1952, song họ đã bị lực lượng an ninh Albania giết chết hoặc bắt giữ. [[Kim Philby]], một gián điệp hai mang Liên Xô đã đóng vai trò là nhân viên liên lạc giữa cơ quan tình báo Anh và cơ quan tình báo TW Hoa Kỳ, đã để lộ chi tiết của kế hoạch xâm nhập đến Moskva, và làm nguy hại đến mạng sống của khoảng 300 người xâm nhập.<ref>Jacques, p. 473.</ref>
 
===Quan hệ với Nam Tư===
Các thành viên chống Nam Tư trong Đảng Cộng sản Albania bắt đầu nghĩ rằng đây là một âm mưu của Tito nhằm gây bất ổn cho Đảng. [[Koçi Xoxe]], [[Sejfulla Malëshova]] và những người ủng hộ Nam Tư khác bị nghi ngờ sâu sắc. Quan điểm của Tito đối với Albania là nước này quá yếu để có thể đứng riêng và tốt hơn là trở thành một phần của Nam Tư. Hoxha cáo buộc rằng Tito làm vậy để nhằm đưa Albania vào thành phần Nam Tư, đầu tiên là lập ra Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Hỗ trợ lẫn nhau vào năm 1946. Trong thời gian đó, Albania bắt đầu cảm thấy rằng hiệp ước đã nghiêng về phía lợi ích của Nam Tư, giống như các thỏa thuận giữa Ý và Albania dưới thời vua Zog, khiến đất nước phụ thuộc vào Ý.<ref name="O'Donnell, p. 19"/>
 
Vấn đề đầu tiên là đồng [[lek Albania]] được định giá lại theo đồng [[dinar Nam Tư]] khi một [[hội nhập kinh tế#Liên minh thuế quan|liên minh thuế quan]] dược hình thành và kế hoạch kinh tế của Albania được Nam Tư quyết định.<ref>See Nicholas C. Pano, ''The People's Republic of Albania'' (Baltimore: The Johns Hopkins Press, 1968), 101.</ref> Các nhà kinh tế học Albania là H. Banja và V. Toçi đã nói rằng mối quan hệ giữa Albania và Nam Tư trong giai đoạn này mang tính bóc lột và rằng nó được Nam Tư nỗ lực tạo ra nhằm biến kinh tế Albania trở thành một "phần phụ thuộc" của kinh tế Nam Tư.<ref>H. Banja and V. Toçi, ''Socialist Albania on the Road to Industrialization'' (Tirana: 8 Nëntori Publishing House, 1979), 66. "...Albania didn't need to create its national industry, but should limit her production to agricultural and mineral raw materials, which were to be sent for industrial processing to Yugoslavia. In other words, they wanted the Albanian economy to be a mere appendage of the Yugoslav economy."</ref>
 
[[Iosif Vissarionovich Stalin|Joseph Stalin]] đã gửi lời khuyên cho Hoxha và phát biểu rằng Nam Tư đang cố gắng để sáp nhập Albania. "Chúng tôi đã không biết rằng người Nam Tư, dưới cái cớ 'bảo vệ' đất nước của các bạn chống lại một cuộc tấn công từ những kẻ phát xít Hy Lạp, lại muốn đưa các đơn vị trong quân đội của họ đến Cộng hòa Nhân dân Albania. Họ đã cố gắng để làm điều này một cách rất bí mật. Trong thực tế, mục đích của họ trên phương diện này là hoàn toàn thù địch, vì họ có ý định đảo lộn tình hình ở Albania."<ref>Enver Hoxha, ''With Stalin'' (Tirana: 8 Nëntori Publishing House, 1979, 92.</ref> Tháng 6 năm 1947, Ủy ban TW của Nam Tư bắt đầu công khai lên án Hoxha, cáo buộc ông đã biểu lộ tinh thần chủ nghĩa cá nhân và chống Marxist. Khi Albania đáp trả bằng việc thiết lập các thỏa thuận với Liên Xô để mua máy móc nông nghiệp, Nam Tư đã nói rằng Albania không thể tham gia vào bất kỳ thỏa thuận nào với các nước khác mà không có sự tán thành của Nam Tư.<ref name="O'Donnell, p. 22">O'Donnell, p. 22.</ref>
 
[[Koçi Xoxe]] đã cố gắng ngăn Hoxha cải thiện quan hệ với [[Cộng hòa Nhân dân Bulgaria|Bulgaria]], lập luận rằng Albania sẽ ổn định hơn khi có một đối tác thương mại thay vì nhiều đối tác. Nako Spiru, một thành viên chống Nam Tư trong Đảng, thì lại lên án Xoxe. Do không ai bênh vực lời của Spiru, ông ta cho rằng tình hình đã trở nên vô vọng và sợ rằng sự thống trị của Nam Tư đối với đất nước mình sắp xảy đến, vì thế ông ta đã tự vẫn vào tháng 11.<ref name="O'Donnell, p. 22"/>
 
===Quan hệ với Liên Xô===
Sau khi tuyệt giao với Nam Tư, Hoxha tự gắn kết Albania với Liên Xô, nước mà ông hết sức khâm phục. Trong giai đoạn 1948–1960, 200&nbsp;triệu Đô la Mỹ viện trợ của Liên Xô đã được trao cho Albania để mở rộng công nghệ và cơ sở hạ tầng. Ngày 22 tháng 2 năm 1949, Albania đã được tiếp nhận vào [[Hội đồng Tương trợ Kinh tế|Comecon]] và Albania trở thành một quân cờ để Liên Xô gây sức ép lên Nam Tư và cũng đóng vai trò là một thế lực thân Xô tại [[biển Adriatic]]. Một căn cứ tàu ngầm đã được xây dựng trên đảo [[Sazan]] gần [[Vlorë]], đặt ra một mối đe dọa đối với [[Đệ lục Hạm đội Hoa Kỳ|Hạm đội 6]] của Hoa Kỳ. Mối quan hệ giữa hai bên tiếp tục duy trì sự gần gũi cho đến cái chết của Stalin vào ngày 5 tháng 3 năm 1953. Albania đã tổ chức quốc tang nhằm tưởng nhớ Stalin. Hoxha tập hợp toàn bộ dân chúng tại quảng trường lớn nhất ở thủ đô, yêu cầu họ quỳ, và bắt họ thực hiện lời tuyên thệ hai nghìn từ với nội dung "trung thành vĩnh viễn" và "lòng biết ơn" với "người cha thân yêu" và "nhà giải phóng vĩ đại", đến người mà người dân nợ "mọi thứ."<ref>''The Economist'' 179 (16 June 1956): 110.</ref>
 
Dưới thời [[Nikita Sergeyevich Khrushchyov|Nikita Khrushchev]], người kế nhiệm Stalin, viện trợ bị cắt giảm và Albania dược khuyến khích áp dụng chính sách chuyên môn hóa của Khrushchev. Dưới chính sách này, Albania sẽ phát triển sản xuất nông nghiệp để cung cấp cho Liên Xô và các nước khác trong [[khối Warszawa]] trong khi các nước này sẽ phát triển các ngành sản xuất đặc trưng của họ, mà về lý thuyết sẽ tăng cường khối Warszawa bằng cách giúp giảm thiếu sự thiếu hụt một số nguồn tài nguyên mà nhiều nước trong khối phải đối mặt. Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa rằng phát triển công nghiệp của Albania, lĩnh vực đã được Hoxha đặc biệt nhấn mạnh, sẽ bị suy giảm đáng kể.<ref>On the "socialist division of labor" see: [http://germanhistorydocs.ghi-dc.org/sub_document.cfm?document_id=1163 The International Socialist Division of Labor (7 June 1962)], German History in Documents and Images.</ref>
 
[[Tập tin:Ppshsymbol1981.png|nhỏ|Biểu tượng của Đảng Lao động Albania.]]
Từ 16 tháng 5 – 17 tháng 6 năm 1955, [[Nikolai Aleksandrovich Bulganin|Nikolai Bulganin]] và [[Anastas Mikoyan]] đã đến thăm Nam Tư và Khrushchev từ bỏ việc trục xuất Nam Tư ra khỏi khối Cộng sản. Khrushchev cũng bắt đầu tham khảo học thuyết nhiều trung tâm của [[Palmiro Togliatti]]. Hoxha đã không được hỏi ý kiến về điều này và cảm thấy bị xúc phạm. Nam Tư bắt đầu yêu cầu Hoxha phục hồi hình ảnh cho [[Koçi Xoxe]], song Hoxha kiên quyết từ chối. Năm 1956, trong Đại hội lần thứ 20 của [[Đảng Cộng sản Liên Xô]], Khrushchev đã lên án tệ [[sùng bái cá nhân]] được xây dựng quanh [[Iosif Vissarionovich Stalin|Joseph Stalin]] và cũng buộc tội Stalin đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng. Khrushchev sau đó công bố thuyết về [[chung sống hòa bình]], điều này đã khiến Hoxha rất giận dữ. Viện Nghiên cứu Marxist-Leninist, do phu nhân [[Nexhmije Hoxha|Nexhmije]] của Hoxha lãnh đạo, đã dẫn lời [[Vladimir Ilyich Lenin|Vladimir Lenin]]: "Các nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của một quốc gia xã bội chủ nghĩa và của một đảng cộng sản là [[chủ nghĩa quốc tế vô sản]]; không phải chung sống hòa bình."<ref>The Institute of Marxist-Leninist Studies at the Central Committee of the Party of Labour of Albania. ''History of the Party of Labor of Albania'', 2nd ed. Tiranë: 8 Nëntori Publishing House, 1982. p. 296.</ref> Hoxha nay hoạt động tích cực hơn trên lập trường chống [[Xét lại (chủ nghĩa Marx)|Xét lại]].
 
Sự thống nhất bên trong [[Đảng Lao động Albania]] cũng bắt đầu suy giảm, với một hội nghị đại biểu đặc biệt được tổ chức tại Tirana vào tháng 4 năm 1956, bao gồm 450 đại biểu và có kết quả bất ngờ. Các đại biểu "chỉ trích tình trạng trong đảng, thái độ tiêu cực đối với quần chúng, sự vắng mặt của dân chủ trong đảng và dân chủ xã hội chủ nghĩa, chính sách kinh tế của lãnh đạo." trong khi cũng kêu gọi thảo luận về tệ sùng bái cá nhân và Đại hội Đảng lần thứ 20 [của Liên Xô].<ref>William Griffith, author of ''Albania and the Sino-Soviet Rift'', p. 22</ref>
Liên Xô trả đũa bằng cách đe dọa sẽ có "hậu quả tàn khốc" nếu những lời lên án không được rút lại. Những ngày sau đó, Khrushchev và [[Antonín Novotný]], Chủ tịch của [[Tiệp Khắc]] (là nguồn viện trợ lớn nhất cho Albania sau Liên Xô) đã đe dọa cắt viện trợ kinh tế. Trong tháng 3, Albania không được mời tham dự cuộc họp của các nước khối Warszawa (trong khi Albania là một trong các thành viên sáng lập năm 1955) và đến tháng 4, tất cả các kỹ thuật viên Liên Xô đã rút khỏi Albania. Trong tháng 5, gần như toàn bộ quân Liên Xô tại căn cứ trên biển Oricum đã rút lui, để lại cho người Albania 4 tàu ngầm và các thiết bị quân sự khác.
 
Ngày 7 tháng 11 năm 1961, Hoxha có một bài phát biểu mà trong đó ông gọi Khrushchev là một "kẻ xét lại, một kẻ chống Marxist và một kẻ chủ bại." Hoxha miêu tả Stalin là nhà lãnh đạo cộng sản cuối cùng của Liên Xô và bắt đầu nhấn mạnh tính độc lập của Albania.<ref>The Institute of Marxist-Leninist Studies at the Central Committee of the Party of Labour of Albania. p. 359. "...the Albanian people and their Party of Labour will even live on grass if need be, but they will never sell themselves 'for 30 pieces of silver', ... They would rather die honourably on their feet than live in shame on their knees."</ref> Ngày 11 tháng 11, Liên Xô và tất cả các nước trong khối Warszawa khác đều tuyệt giao quan hệ với Albania. Albania không chính thức bị loại trừ (với việc không được mời) khỏi [[khối Warszawa]] và [[Hội đồng Tương trợ Kinh tế|Comecon]]. Liên Xô cũng cố gắng để tuyên bố có quyền kiểm soát cảng Vlorë dựa trên một hợp đồng cho thuê; Đảng Lao động Albania sau đó đã thông qua một luật cấm bất kỳ quốc gia nào khác sở hữu cảng của Albania thông qua cho thuê hay dưới hình thức khác.
 
==Thời kỳ lãnh đạo sau==
[[Tập tin:Mali i Shpiragut.jpg|nhỏ|330px|phải|Tên riêng của Hoxha trên mặt núi Shpiragu.]]
 
Di sản của Hoxha còn bao gồm một tổ hợp gồm 750.000 [[các boong-ke tại Albania|boong-ke]] bê tông chứa được một người trên khắp đất nước, chúng có tác dụng làm nơi canh gác và đặt các ụ súng cùng với [[vũ khí hóa học]].<ref>''[http://www.washingtonpost.com/ac2/wp-dyn/A61698-2005Jan9?language=printer Albania's Chemical Cache Raises Fears About Others]'' – ''[[The Washington Post|Washington Post]]'', Monday 10 January 2005, Page A01</ref> Các boong-ke được xây dựng vững chắc và có tính lưu động, nhằm để họ có thể dễ dàng đặt chúng xuống một lỗ đào từ trước bằng một cần cẩu hoặc máy bay trực thăng. Có các loại boong-ke khác nhau như công sự ngầm để súng máy, boong-ke bãi biển, cho đến căn cứ hải quân ngầm.
 
Chính sách đối nội của Hoxha là tin tưởng vào mô hình của Stalin, và [[sùng bái cá nhân]] đã phát triển trong những năm 1970 xung quanh ông, tương tự như đối với Stalin trước đây. Đôi khi nó còn đạt đến một cường độ như việc sùng bái cá nhân [[Kim Nhật Thành]] (điều mà Hoxha lên án<ref>''[http://files.osa.ceu.hu/holdings/300/8/3/text/117-1-7.shtml RADIO FREE EUROPE Research 17 December 1979 quoting Hoxha's ''Reflections on China Volume II'':] "In Pyongyang, I believe that even Tito will be astonished at the proportions of the cult of his host, which has reached a level unheard of anywhere else, either in past or present times, let alone in a country which calls itself socialist."</ref>) theo đó thì Hoxha được mô tả là một thiên tài bình luận trên hầu như tất cả các mặt của đời sống từ văn hóa-kinh tế cho đến các vấn đề quân sự. Mỗi quyển sách giáo khoa được yêu cầu có một hoặc nhiều hơn các lời trích dẫn của ông về môn học được giảng dạy.<ref>Kosta Koçi, interview with James S. O'Donnell, ''A Coming of Age: Albania under Enver Hoxha'', Tape recording, Tirana, 12 April 1994.</ref> Đảng Lao động Albania vinh danh ông với các danh hiệu như Đồng chí Tối cao hay Nhà giáo vĩ đại.
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 3 của Albania, Trung Quốc đã hứa hẹn về một khoản vay trị giá 125&nbsp;triệu Đô la Mỹ để Albania xây dựng 25 nhà máy hóa chất, điện và luyện kim được đề cập đến trong Kế hoạch. Tuy nhiên, quốc gia này đã có một giai đoạn chuyển tiếp khó khăn, do các kỹ thuật viên Trung Quốc có chất lượng thấp hơn các kỹ thuật viên Liên Xô và khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia, cộng với các mối quan hệ tồi giữa Albania và các nước láng giềng, các vấn đề trở nên phức tạp hơn. Không giống như Nam Tư hay Liên Xô, Trung Quốc đã có ảnh hưởng rất nhỏ trên phương diện kinh tế đối với Albania dưới thời Hoxha. 15 năm trước đó (1946–1961), có ít nhất 50% kinh tế Albania dựa trên thương mại nước ngoài.<ref>Elez Biberaj, ''Albania and China'' (Boulder: Westview Press, 1986), 40.</ref>
 
Do Hiến pháp 1976 nghiêm cấm nợ, viện trợ và đầu tư nước ngoài, Albania về cơ bản trở thành nước [[tự cung tự cấp]], bất chấp việc nước này thiếu các công nghệ hiện đại. Về mặt ý thức hệ, Hoxha nhận thấy quan điểm ban đầu của [[Mao Trạch Đông]] phù hợp với [[chủ nghĩa Marx-Lenin]]. Mao Trạch Đông lên án chủ nghĩa [[xét lại (chủ nghĩa Marx)|xét lại]] của [[Nikita Sergeyevich Khrushchyov|Nikita Khrushchev]] và đồng thời cũng chỉ trích Nam Tư. Viện trợ đến từ Trung Quốc không tính lãi và không phải hoàn trả cho đến khi Albania có đủ khả năng để làm như vậy.<ref name="Hamm, 45">Hamm, 45.</ref>
 
Trung Quốc đã không bao giờ can thiệp vào sản lượng kinh tế của Albania, và các kỹ thuật viên Trung Quốc làm việc với một mức lương tương tự như các công nhân người Albania, không như các kỹ thuật viên Liên Xô, những người đôi khi được Hoxha trả lương cao gấp ba lần công nhân Albania.<ref name="Hamm, 45"/> Các bài báo Albania được in lại trên báo Trung Quốc và được đọc trên đài phát thanh Trung Quốc. Cuối cùng, Albania đã dẫn đầu phong trào giành ghế cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại [[Liên Hiệp Quốc]], một nỗ lực đã thành công vào năm 1971 và do đó nhà nước cộng sản Trung Quốc đã thay thế ghế của [[Trung Hoa Dân Quốc]].<ref>Owen Pearson. ''Albania in the Twentieth Century: A History'' Vol. III. New York: St. Martin's Press. 2006. p. 628.</ref>
Giống như Albania, Trung Quốc bảo vệ "tinh khiết" của chủ nghĩa Marx bằng cách tấn công cả "[[đế quốc Mỹ]]" cũng như "xét lại Liên Xô và Nam Tư", cả hai đều là một phần của thuyết "kẻ thù kép".<ref name="O'Donnell, p. 68">O'Donnell, p. 68.</ref> Nam Tư được nhìn nhận là một "biệt đội của chủ nghĩa đế quốc Mỹ" và là một "kẻ phá hoại chống lại cách mạng thế giới."<ref name="O'Donnell, p. 68"/> Tuy nhiên, các nhìn nhận này đã bắt đầu thay đổi tại Trung Quốc, một trong những vấn đề chính mà Albania gặp phải trong liên minh này.<ref>Biberaj, 49.</ref> Cũng không giống với Nam Tư và Liên Xô, liên minh Trung Quốc-Albania thiếu "...một cơ cấu tổ chức để tham vấn thường xuyên và phối hợp chính sách, và có điểm đặc trưng là một mối quan hệ không chính thức được kiểm soát dựa trên một cơ sở ''đặc biệt''." Mao Trạch Đông đã có một bài phát biểu vào ngày 3 tháng 11 năm 1966, trong đó tuyên bố rằng Albania là nhà nước Marxist-Leninist duy nhất ở châu Âu và "một cuộc tấn công vào Albania sẽ cần phải tính đến nhân dân Trung Quốc vĩ đại. Nếu đế quốc Mỹ, xét lại Liên Xô hiện nay hay bất kỳ tay sai nào của họ dám động vào Albania dù là nhỏ nhất, sẽ không có gì ở phía trước giành cho họ mà chỉ có một thất bại hoàn toàn, đáng xấu hổ và đáng nhớ."<ref>Hamm, 43.</ref> Tương tự, Hoxha nói rằng "Các bạn có thể yên tâm, những người đồng chí, đến những gì có thể trong thế giới rộng lớn, hai đảng của chúng ta và hai dân tộc chúng ta chắc chắn sẽ sát cánh bên nhau. Chúng ta sẽ chiến đấu cùng nhau và chúng ta sẽ giành chiến thắng."<ref>Biberaj, 58.</ref>
 
Trong giai đoạn bốn năm sau [[Cách mạng văn hóa|Cách mạng Văn hóa]], Trung Quốc ở trong tình trạng tương đối cô lập về ngoại giao, mối quan hệ giữa Trung Quốc-Albania đã lên tới đỉnh cao trong giai đoạn này. Ngày 20 tháng 8 năm 1968, Albania đã lên án việc [[Khối Hiệp ước Warsaw tấn công Tiệp Khắc|Liên Xô xâm chiếm Tiệp Khắc]]. Albania sau đó đã chính thức ra khỏi khối Warszawa vào ngày 5 tháng 9. Mối quan hệ với Trung Quốc bắt đầu xấu đi vào ngày 15 tháng 7 năm 1971, khi Tổng thống Hoa Kỳ [[Richard Nixon]] sang thăm Trung Quốc để hội đàm với Chu Ân Lai. Hoxha cảm thấy mình bị phản bội và chính quyền của ông ở trong tình trạng bất ngờ. Ngày 6 tháng 8, Ủy ban Trung ương của Đảng Lao động Albania đã gửi một bức thư cho Ủy ban Trung ương của [[Đảng Cộng sản Trung Quốc]], trong đó gọi Nixon là một "kẻ chống cộng điên cuồng."
 
Kết quả là trong một thông điệp năm 1971 của giới lãnh đạo Trung Quốc đã nói rằng Albania không thể phụ thuộc hơn nữa vào một lượng viện trợ không xác định của Trung Quốc và đến năm 1972 Albania được khuyên là nên "kiềm chế những kỳ vọng của mình về những đóng góp hơn nữa của Trung Quốc cho nền kinh tế Albania."<ref>Biberaj, 90.</ref> Năm 1973, Hoxha đã viết trong nhật ký của mình rằng những lãnh đạo Trung Quốc:
}}
 
Để đáp trả, Albania đã phát triển thương mại với khối [[Hội đồng Tương trợ Kinh tế|Comecon]] (riêng thương mại với Liên Xô vẫn bị ngăn chặn) và Nam Tư. Thương mại với các nước [[Thế giới thứ ba]] đã đạt 0,5&nbsp;triệu Đô la Mỹ vào năm 1973, song đã tăng lên 8,3&nbsp;triệu Đô la Mỹ vào năm 1974. Thương mại đã tăng từ 0,1% đến 1.,6%.<ref>Biberaj, 98.99.</ref> Sau cái chết của Mao Trạch Đông vào ngày 9 tháng 9 năm 1976, Hoxha vẫn lạc quan về quan hệ Trung Quốc-Albania, song đến tháng 8 năm 1977, [[Hoa Quốc Phong]], nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc, đã nói rằng [[Thuyết thế giới thứ ba]] của Mao Trạch Đông sẽ trở thành chính sách đối ngoại chính thức. Hoxha nhìn nhận điều này là một cách để Trung Quốc biện minh cho việc coi Hoa Kỳ là "kẻ thù thứ hai" trong khi xem Liên Xô là kẻ thù chính, do đó cho phép Trung Quốc có quan hệ thương mại với Hoa Kỳ. "...kế hoạch 'thế giới thứ ba' của Trung Quốc là một kế hoạch ma quỷ lớn, với mục tiêu để Trung Quốc trở thành một siêu cường khác, chính xác là bằng cách đưa nó trở thành nước đứng đầu trong 'thế giới thứ ba' và 'thế giới không liên kết.'"<ref>Enver Hoxha, ''Reflections on China,'' vol. 2: (Toronto: Norman Bethune Institute, 1979), 656.</ref> Từ ngày 30 tháng 8 đến 7 tháng 9 năm 1977, Tito đã đến thăm [[Bắc Kinh]] và được giới lãnh đạo Trung Quốc chào đón. Tại thời điểm này, Đảng Lao động Albania đã tuyên bố rằng Trung Quốc nay là một nhà nước xét lại giống như Liên Xô và Nam Tư, và rằng Albania và là nhà nước Marxist-Leninist duy nhất trên trái đất. Ngày 13 tháng 7 năm 1978, Trung Quốc thông báo rằng nước này chính thức cắt viện trợ cho Albania. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, Albania không có một đồng minh nào.
 
===Nhân quyền===
[[Tập tin:HODŽA druhá míza.jpg|nhỏ|250px|Enver Hoxha năm 1971.]]
Một số điều khoản trong hiến pháp năm 1976 trên thực tế đã hạn chế việc thực hiện các quyền tự do chính trị.<ref>O'Donnell, p. 129.</ref> Thêm vào đó, chính phủ từ chối cho người dân tiếp cận các thông tin khác ngoài những thứ đã được các phương tiện truyền thông chính phủ kiểm soát. Về đối nội, [[Sigurimi]] cũng thực thiện theo các phương pháp đàn áp của [[NKVD]], [[MGB]], [[KGB]], và [[Stasi]] của [[Cộng hòa Dân chủ Đức|Đông Đức]]. "Các hoạt động của nó lan tỏa khắp xã hội Albania đến mức mọi công dân hạng ba đều đã có thời gian bị gửi đến các trại lao động hoặc bị các sĩ quan Sigurimi thẩm vấn."<ref>Raymond E. Zickel & Walter R. Iwaskiw. ''Albania: A Country Study''. Washington, D.C.: Federal Research Division of the United States Library of Congress. p. 235.</ref>
 
Để loại bỏ bất đồng chính kiến, chính phủ đã bỏ tù hàng nghìn người trong các trại lao động cải tạo hoặc xử tử họ với các tội danh như phản bội hoặc chống phá [[chuyên chính vô sản]]. Việc đi ra nước ngoài bị cấm từ sau năm 1968, trừ những người có nhiệm vụ chính thức. Văn hóa Tây Âu được nhìn nhận với sự ngờ vực sâu sắc, kết quả là các vụ bắt giữ và lệnh cấm các tài liệu nước ngoài trái phép.<ref>[http://news.bbc.co.uk/2/hi/programmes/from_our_own_correspondent/4379499.stm Dance fever reaches Albania] "The former student, now the mayor of Tirana, said that he would cower beneath the bedclothes at night listening to foreign radio stations, an activity punishable by a long stretch in a labour camp. He became fascinated by the saxophone. Yet, as such instruments were considered to be an evil influence and were banned, he had never seen one. "</ref> Nghệ thuật Albania khi đó được phát triển theo [[chủ nghĩa hiện thức xã hội chủ nghĩa]].<ref>Keefe, Eugene K. ''Area Handbook for Albania.'' Washington, D.C.: The American University (Foreign Area Studies), 1971.</ref> Việc để râu bị cấm do bị xem là không hợp vệ sinh và để hạn chế ảnh hưởng của [[Hồi giáo]] và [[Chính Thống giáo Đông phương|Chính Thống giáo]].
 
Hệ thống tư pháp thường xuyên trở thành những phiên tòa có lệ mà thôi. "...[Bị đơn] không được phép hỏi người làm chứng và mặc dù ông ta được phép phát biểu lời phản đối của mình đối với một số khía cạnh của vụ án, những lời phản đối của ông ta sẽ bị công tố viên bác bỏ khi họ nói, 'Ngồi xuống và im lặng. Chúng tôi rõ hơn bạn.'"<ref>Minnesota International Human Rights Committee, ''Human Rights in the People's Socialist Republic of Albania''. (Minneapolis: Minnesota Lawyers International Human Rights Committee, 1990), 46.</ref> Để giảm bớt mối đe doạ của các nhà bất đồng chính kiến và những người lưu vong khác, những người thân của bị can thường bị bắt giữ, bị [[tẩy chay]], và bị cáo buộc là "[[kẻ thù của nhân dân]]".<ref>James S. O'Donnell, "Albania's Sigurimi: The ultimate agents of social control" ''Problems of Post-Communism'' #42 (Nov/Dec 1995): 5p.</ref>
 
===Tôn giáo===
Albania là một quốc gia châu Âu có cư dân chủ yếu theo [[Hồi giáo]], chủ yếu là do ảnh hưởng của [[đế quốc Ottoman]], và tôn giáo trở thành một bản sắc dân tộc. Trong đế quốc Ottoman, người Hồi giáo được nhìn nhận là người Thổ Nhĩ Kỳ, các tín hữu [[Chính Thống giáo Đông phương]] được nhìn nhận là [[người Hy Lạp]] và tín hữu [[Giáo hội Công giáo Rôma|Công giáo]] được nhìn nhận là người Latinh. Hoxha tin rằng đây là một vấn đề nghiêm trọng, ông thấy rằng nó khuyến khích những người Hy Lạp ly khai tại [[Bắc Epirus]] và gây chia rẽ đất nước nói chung. Luật cải cách ruộng đất vào năm 1945 đã tịch thu nhiều tài sản của giáo hội tại Albania. Những người Công giáo là cộng đồng đầu tiên bị nhắm đến, lý do là vì [[Tòa Thánh]] bị chính phủ nước này nhìn nhận là một nhân tố [[chủ nghĩa phát xít|phát xít]] và [[chủ nghĩa chống cộng|chống cộng]].<ref>Anton Logoreci, ''The Albanians: Europe's Forgotten Survivors'' (Boulder: Westview Press, 1977), 154.</ref> Năm 1946, [[Dòng Tên]] và đến năm 1947 là [[Dòng Fran-xít]] đã bị cấm. ''Nghị định số 743'' (về Tôn giáo) đã mưu cầu một [[quốc giáo|giáo hội quốc gia]] và cấm các nhà lãnh đạo tôn giáo liên hệ với các thế lực nước ngoài.
 
Đảng tập trung vào việc giáo dục vô thần trong trường học. Chiến thuật này đã có hiệu quả, chủ yếu là do chính sách tỷ lệ sinh cao sau chiến tranh. Trong các dịp lễ như [[Ramadan]] hay [[Mùa Chay (Kitô giáo)|Mùa Chay]], nhiều loại thực phẩm bị cấm (các sản phẩm bơ sữa, thịt ...) được phân phát trong các trường học và nhà máy, những người từ chối ăn những thực phẩm này sẽ bị lên án. Bắt đầu từ ngày 6 tháng 2 năm 1967, Đảng Lao động Albania bắt đầu một cuộc tấn công mới chống lại tôn giáo. Hoxha, người đã tuyên bố thực hiện "Cách mạng Văn hóa và Tư tưởng" lấy cảm hứng một phần từ [[Cách mạng văn hóa|Cách mạng Văn hóa]] của Trung Quốc, đã khuyến khích các học sinh và công nhân cộng sản sử dụng các chiến thuật mạnh mẽ hơn để thúc đẩy chủ nghĩa vô thần, mặc dù bạo lực bước đầu đã bị lên án.<ref>Enver Hoxha, "The Communists Lead by Means of Example, Sacrifices, Abnegation: Discussion in the Organization of the Party, Sector C, of the 'Enver' Plant", 2 March 1967, in Hoxha, E., Vepra, n. 35, Tirana, 1982, pp. 130–1. "In this matter violence, exaggerated or inflated actions must be condemned. Here it is necessary to use persuasion and only persuasion, political and ideological work, so that the ground is prepared for each concrete action against religion."</ref>
 
Theo Hoxha, sự gia tăng hoạt động chống tôn giáo bắt nguồn từ giới trẻ. Kết quả của "phong trào tự phát, vô cớ" là việc đóng cửa tất cả 2.169 nhà thờ Ki-tô giáo và Hồi giáo tại Albania. [[Thuyết vô thần quốc gia]] trở thành chính sách chính thức, và Albania tuyên bố là quốc gia vô thần đầu tiên trên thế giới. Chính phủ đã đổi các tên gọi đô thị dựa trên tôn giáo, cũng như các tên riêng. Trong giai đoạn này, các tên gọi dựa trên tôn giáo cũng bị coi là bất hợp pháp. ''Từ điển tên của nhân dân'', xuất bản năm 1982, bao gồm 3.000 tên gọi thế tục được phê duyệt. Năm 1992, [[Đức ông (Công giáo)|Đức ông]] Dias, Đại sứ Giáo hoàng Albania do [[Giáo hoàng Gioan Phaolô II]] bổ nhiệm, đã cho biết trong số 300 linh mục Công giáo hiện diện ở Albania trước khi cộng sản lên nắm quyền, chỉ còn 30 người sống sót.<ref>Henry Kamm, "Albania's Clerics Lead a Rebirth," ''New York Times'', 27 March 1992, p. A3.</ref> Tất cả các nghi lễ và giáo sĩ tôn giáo bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và những nhân vật tôn giáo từ chối từ bỏ vị trí của họ đã bị bắt giữ hoặc bị buộc phải trốn tránh.<ref>Jacques, p. 489, 495.</ref>
986.568

lần sửa đổi