Khác biệt giữa các bản “Theodosius II”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (clean up, replaced: |thumb| → |nhỏ|, [[Image: → [[Hình:, {{Reflist}} → {{Tham khảo}}, {{cite book → {{chú thích sách (5) using AWB)
n
|issue=[[Licinia Eudoxia]]
|}}
'''Theodosius II''' ([[tiếng Latin]]: ''Flavius Theodosius Junior Augustus'';<ref>Consular diptych of 430</ref> [[401]] – [[450]]) thường gọi là '''Theodosius Trẻ''' <ref>Gibbon, Edward. ''The Decline and Fall of the Roman Empire'', Chapters 32 & 34</ref> hoặc '''Theodosius [[Nhà thư pháp]]''', là [[Hoàng đế La Mã|Hoàng đế Đông La Mã]] từ năm [[408]] đến [[450]]. Ông được biết đến nhiều về việc ban hành [[bộ luật Theodosius]] và chocông xây dựng các bức [[Tường thành Constantinople|tường thành Theodosius]] bao quanh [[Constantinople]]. Triều đại của ông còn được biết đến là đãghi diễnnhận ravề các cuộc tranh cãi [[thầnThần học]] lớn nhất giữa hai trường phái [[Kitô giáo]] là [[Giáo thuyết Nestoria|Nestoria]] và [[Giáo thuyết Eutychia|Eutychia]].
 
==Tiểu sử==
Theodosius sinh năm 401, là con trai duy nhất của Hoàng đế Arcadius và người vợ gốc [[Người Frank|Frank]] [[Aelia Eudoxia]]. Vào tháng 1 năm [[402]], ông được cha phong làm đồng [[Augustus (danh hiệu)|Augustus]], do vậy trở thành người trẻ tuổi nhất từng nắm giữ xưng hiệu này trong [[lịch sử La Mã]].<ref>http://www.roman-empire.net/constant/theodosius-II.html</ref> Năm [[408]], cha ông qua đời và cậu bé bảy tuổi đã trở thành [[Hoàng đế Đông La Mã]].
 
Chính quyền Đông La Mã lúc đầu bị viên [[Pháp quan thái thú]] (''[[Praetorian prefect|Praetorian Prefect]]'') [[Anthemius (praetorian prefect)|Anthemius]] khống chế hoàn toàn, cũng chính ông là người đã giám sát việc xây dựng các bức tường thành bao quanh thủ đô Constantinople nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trước các cuộc xâm lấn của người rợ ngày càng tăng.
 
Năm [[414]], chị của Theodosius là [[Pulcheria]] được tôn làm ''Augusta'' và đảm nhận việc nhiếp chính. Đến năm [[416]] Theodosius được kế thừa tước hiệu Augustus chính thức tự gánh vác việc nước và thời kỳ nhiếp chính kết thúc, thế nhưng người chị của ông vẫn còn để lại ảnh hưởng rất lớn đối với việc trị nước nhất là về tôn giáo. Tháng 6 năm [[421]], Theodosius kết hôn với Aelia Eudocia, một phụ nữ gốc [[Hy Lạp]].<ref>{{chú thích sách |author= Duncan, Alistair |title= The noble heritage: Jerusalem and Christianity, a portrait of the Church of the Resurrection |publisher= Longman |year= 1974|page= 28|isbn= 0-582-78039-X |quote= Năm 438 Hoàng hậu Eudocia, vợ của Theodosius II, đã đến thăm Jerusalem. Sau khi quyên góp tiền bạc nhằm xây dựng những nhà thờ mới và trở về Constantinople, Eudocia đã bị người chị dâu thay thế do gốc gác Hy Lạp của mình. Chỉ chừa lại một phần các nhà thờ của bà. }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Morgan, Robin |title= Sisterhood is global: the international women's movement anthology |publisher= Feminist Press |year= 1996|page=270 |isbn= 1-55861-160-6|quote= Phụ nữ Hy Lạp vẫn còn xuất hiện trong suốt thời Byzantine.
 
Năm 421, Hoàng đế Theodosius II kết hôn với một người phụ nữ dị giáo người Athena; sau lễ rửa tội, cô được đặt tên là Eudocia. }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Mahler, Helen A. |title= Empress of Byzantium |publisher= Coward-McCann |year= 1952|page= 106|oclc =331435 |quote= Là dân Athena, con gái của Leontius, một học giả thành Athena. Trước khi cưới, cô sẽ mang tên của mẹ mình trong lễ rửa tội thiêng liêng, Hoàng hậu Eudoxia cao quý nhưng vì là dân Hy Lạp gốc Athena nên cái tên sẽ được phát âm thành Eudocia. }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Cheetham, Nicolas |title= Mediaeval Greece |publisher= Yale University Press |year= 1981|page=12 |isbn= 0-300-10539-8|quote= Vô cùng tự hào về dòng tộc và văn hóa Hy Lạp, Eudocia đã lấn lướt bà… }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Cuming, G. J. ; Baker, Derek ; Ecclesiastical History Society |title= Popular belief and practice: Volume 8 of Studies in church history |publisher= CUP Archive |year= 1972|page=13 |isbn= 0-521-08220-X |quote= Bản thân Eudocia là con gái của một nhà triết học dị giáo thành Athena, chấp nhận đức tin mới trong một tâm trạng chấp nhận hoàn toàn tự nguyện. Rất ý thức về di sản Hy Lạp của mình, như trong bài diễn văn nổi tiếng của bà trước toàn thể dân chúng xứ Antioch,}}</ref> Cả hai có một người con gái tên là [[Licinia Eudoxia]].
 
Theodosius tỏ ra ngày càng quan tâm đến Kitô giáo, cũng bởi chịu sự ảnh hưởng từ người chị sùng đạo Pulcheria, cũng bởi vậy mà ông đã bắt đầu một [[Chiến tranh La Mã-Ba Tư (421-422)|cuộc chiến tranh chống lại nhà Sassanid]] ([[421]]-[[422]]) vì lý do họ đàn áp người Kitô giáo; cuộc chiến kết thúc trong hòa hoãn, người La Mã đã buộc phải chấp nhận hoà bình khi hay tin đại quân người Hun đang chuẩn bị vây hãm đe dọa Constantinople.<ref>Warren T. Treadgold, ''A history of the Byzantine state and society'', Stanford University Press, 1997, ISBN 0-8047-2630-2, p. 90.</ref>
Năm [[423]], [[Hoàng đế Tây La Mã]] [[Flavius Honorius|Honorius]], chú của Theodosius qua đời và viên ''[[primicerius notariorum]]'' (Trưởng quan hành chính) [[Joannes]] tự xưng làm Hoàng đế phía Tây nhưng không được phía Đông công nhận. Em gái của Honorius là [[Galla Placidia]] và đứa con trai nhỏ của [[Valentinianus]] cùng nhau chạy trốn đến Constantinople để tìm kiếm sự giúp đỡ từ triều đình phía Đông và sau vài lần cân nhắc kỹ lưỡng vào năm [[424]], Theodosius quyết định tuyên chiến chống lại ngụy đế Joannes. Tháng 5 năm [[425]], Valentinianus III được binh lính đưa lên làm Hoàng đế Tây La Mã với sự hỗ trợ của ''[[magister officiorum]]'' [[Helion]] và mẹ ông làm nhiếp chính. Để củng cố mối quan hệ giữa hai phần của Đế quốc, Theodosius đã đem cô con gái rượu Licinia Eudoxia đính hôn với Valentinianus.
===Giáo dục và Luậtluật lệ===
[[Hình:Menologion of Basil 061.jpg|nhỏ|300px|Theodosius cùng quần thần nghênh đón di hài của [[John Chrysostom]]. Bức tiểu họa từ thế kỷ thứ 11.]]
Năm [[425]], Theodosius cho thành lập trường [[Đại học Constantinople]] với 31 giáo sư (15 người giảng dạy bằng tiếng Latin và 16 người giảng dạy bằng tiếng Hy Lạp). Các môn học bao gồm luật học, triết học, y học, số học, hình học, thiên văn học, âm nhạc và hùng biện.
 
Năm [[429]], Theodosius đã bổ nhiệm một ủy ban với nhiệm vụ thu thập tất cả các luật lệ kể từ thời Đại đế [[Constantinus Đại đế|Constantinus I]] và tạo ra một hệ thống luật chính thức hoàn chỉnh. Kế hoạch này đã bị bỏ dở, nhưng công việc của ủy ban thứ hai lại được tổ chức ở Constantinople, họ vẫn được phân công thu thập tất cả các bộ luật chung và phải hoàn thành chúng đúng thời hạn, để rồi bộ sưuluật tập của họ được công bố với tên gọi [[Bộ luật Theodosianus]] vào năm [[438]]. Bộ luật của Theodosius II gồm những sắc lệnh tổng hợp được ban hành từ thời Đại đế Constantinus, tạo thành cơ sở cho các bộ luật của Hoàng đế [[Justinian I]] vào thế kỷ sau.
 
===Chiến tranh với người Rợ và Ba Tư===
[[Đế quốc Đông La Mã]] còn bị đe dọa từ các cuộc đột kích ngắn hạn của [[người Hun]]. Năm [[447]], đại quân của người Hun đã đitràn qua vùng [[Balkan]], phá hủy một trong số những thành phố ở [[Serdica]] ([[Sofia]]) rồi tiến quân tới Athyra ([[Büyükçekmece]]) ở vùng ngoại ô của Constantinople nhằm trực tiếp uy hiếp kinh đô. Sau đó, đích thân [[Anatolius (quan chấp chính)|Anatolius]] đã chủ trương đàm phán cầu hòa khiến hai bên đạt được một thỏa thuận ngưng chiến lâu dài với điều kiện mỗi năm Đông La Mã phải cống nạp cho họ một số lượng lớn vàng bạc khiến cho ngân khố quốc gia ngày càng giảm sút.
 
Khi các tỉnh [[châu Phi]] thuộc La Mã rơi vào tay [[người Vandal]] vào năm [[439]], cả hai hoàng đế Đông và [[Đế quốc Tây La Mã|Tây La Mã]] đều gửi quân tới [[Sicily]], để phát động một cuộc tấn công người Vandal ở [[Carthage]], nhưng kế hoạch này mau chóng thất bại. Nhận thấy biên giới của [[Đế quốc La Mã]] chẳng còn lực lượng quân sự nào đáng kể, liên quân Hun và [[Nhà Sassanid|Ba Tư nhà Sassanid]] cùng nhau tuyên chiến. Suốt năm [[443]], hai đội quân La Mã lần lượt đều bị người Hun đánh bạicho thảm tiêubại. diệt thảmthế khốc.đã Buộcbuộc triều đình La Mã phải ký thỏa thuận hòa bình với điều kiện cốngphải nạptăng đượckhoản tăngcống nạp gấp ba lần sau khi quân Hun đãrút rútsâu vào bên trong lãnh thổ của Đế quốc. Cuộc chiến với người Ba Tư mặt khác lại chứng tỏ sự thiếu quyết đoán của Đông La Mã dẫn đến một thoản thuận hòa bình giữa đôi bên vào năm 422 mà không cần thay đổi hiện trạng.
===Tranh luận Thần học===
Trong một lần viếng thăm [[Syria]], Theodosius đã gặp tu sĩ [[Nestorius]], một nhà thuyết giáo nổi tiếng. Vì mến mộ tài năng lẫn đức hạnh của ông mà hoàng đế đã bổ nhiệm Nestorius làm [[Tổng giám mục thành Constantinople]] vào năm 428. Vừa nhậm chức chưa được bao lâu, Nestorius nhanh chóngđã dính líu vào vụ tranh luận củadữ dội giữa hai phe thầnThần học chỉ vì khác biệt trong quan điểm [[Thiên Chúa giáo]]. Nestorius đã cố gắng tìm cách dung hòa giữa hai phe, nhấn mạnh thực tế rằng Đức Chúa được sinh ra như một người bình thường, cứ khăng khăng đòi gọi [[Maria|Đức Mẹ Đồng Trinh Maria]] là ''Theotokos'' ("Người sinh Thiên Chúa"), và những người từ chối danh hiệu đó vì Thiên Chúa chỉ là một hữu thể vĩnh cửu, cũng có thể ngài chưa từng được sinh ra. Nestorius đề nghị dùng danh hiệu ''Christotokos'' ("Người sinh Chúa Kitô") như một sự thỏa hiệp, nhưng không được hai phe công nhận. Ông bị cáo buộc là đã tách rời tính chất thiêng liêng và nhân tính của Chúa Kitô, kết quả là xuất hiện "hai Chúa Kitô", một tà thuyết sau này được gọi là [[giáo thuyết Nestoria]]. Dù lúc đầu được sự ủng hộ hoàng đế, Nestorius đã gặp phải một đối thủ mạnh mẽ từ Tổng giám mục [[Cyril thành Alexandria]]. Theo yêu cầu của Nestorius, hoàng đế đã cho mời một [[Công đồng Ephesus lần thứ nhất|công đồng]] được triệu tập ở [[Ephesus]] vào năm [[431]]. Hội đồng này đã chính thức xác nhận danh hiệu ''Theotokos'' và lên án Nestorius, khiến ông phải trở về tu viện của mình ở Syria và cuối cùng bị lưu đày đến một tu viện xa xôi ở [[Ai Cập]] rồi qua đời trong nỗi cô đơn tột cùng.
 
Gần hai mươi năm sau, một vụ tranh cãi thầnThần học lại nổ ra lần nữa, lần này do trưởng tuTu viện trưởng Constantinopolitan [[Eutyches]] khởi xướng, theo đó thì ông cho rằng Kitô giáo được một số người hiểu theo nghĩa phải hòa trộn bản tính Thiên Chúa và nhân tính của Chúa Kitô thành một. Vì vụ việc lần này mà Eutyches bị Tổng giám mục [[Flavian thành Constantinople]] lên án kịch liệt nhưng dựamay trênnhờ mộtvào người bạn đầy quyền uy sẽ kế thừa Cyril là [[Dioscurus thành Alexandria]] ra tay cứu giúp mới thoát khỏi bị kết án. Một công đồng khác được triệu tập ở Ephesus vào năm [[449]], về sau bị [[Giáo hoàng Leo I]] chogọi là một "tên cướp công đồng của kẻ cướp" vì những trường hợp hỗn loạn của nó. Công đồng này đã quyết định phục chức cho Eutyches và truất phế Flavian, ông này bị ngược đãi và chết ngay sau đó. Leo thành Rome và nhiều giám mục khác đã phản đối kết quả, nhưng riêng hoàng đế lại ủng hộ. Chỉ sau khi ông qua đời vào năm 450 thì quyết định mới bị đảo ngược tại [[Công đồng Chalcedon]] năm [[451]].
 
===Qua đời===
Theodosius mất vào năm 450 do bị ngã ngựa khi đang dạo chơi cùng tùy tùng. Vì không có con trai nối dõi nên đã xảy ra một cuộc tranh đấu quyền lực giữa hai phe phái trong triều, kết quả là người chị Pulcheria của ông đã giành thắng lợi sau khi đưa quân dẹp tan phe cánh của viên [[thái giám]] đầy quyền uy [[Chrysaphius]]. Sau đó, bà vội vàng kết hôn với tướng [[Marcianus]] và đưa ông lên ngôi Hoàng đế Đông La Mã để rồi cả hai vợ chồng cùng nhau chămtrị lo việcđất nước.
 
==Xem thêm==
*Fergus Miller: ''A Greek Roman Empire: Power and Belief Under Theodosius II'' (Đế quốc La Mã Hy Lạp: Quyền lực và tín ngưỡng dưới thời Theodosius II). University of California Press, Berkeley 2006.
*Vasiliki Limberis, ''Divine Heiress: The Virgin Mary and the Creation of Christian Constantinople'' (Người thừa kế Chúa: Đức Mẹ Đồng Trinh Maria và sự sáng lập Thiên Chúa giáo ở Constantinople) (London: Routledge, 1994) có một phần đáng kể về Theodosius II và người chị Pulcheria của ông.
*Hugh Elton, "Imperial politics at the court of Theodosius II," (Nền chính trị hoàng gia tại triều đình Theodosius II) trong ấn bản của Andrew Cain, ''The Power of Religion in Late Antiquity: The Power of Religion in Late Antiquity'' (Quyền lực tôn giáo cuối thời Cổ đại: Quyền năngthế tôn giáo cuối thời Cổ đại) (Aldershot, Ashgate, 2009), 133–142.
 
==Liên kết ngoài==
{{s-reg|}}
{{s-bef | before=[[Arcadius]]}}
{{s-ttl | title=[[Hoàng đế ByzantineLa Mã|Hoàng đế Đông La Mã]] |years=402–450<br>with<br>[[Arcadius]]<br>(402-408)}}
{{s-aft | after=[[Marcianus]]}}
{{s-off}}