Khác biệt giữa các bản “Lịch Julius”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Di chuyển 82 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q11184 Addbot)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
{{Các loại lịch}}
'''Lịch Julius''', hay như trước đây [[phiên âm]] từ [[tiếng Pháp]] sang là '''lịch Juliêng''', được [[Julius Caesar]] giới thiệu năm [[46 TCN]] và có hiệu lực từ năm [[45 TCN]] (709 ''[[ab urbe condita]]''). Nó đã được lựa chọn sau khi có sự tư vấn của nhà [[thiên văn học|thiên văn]] người [[Alexandria]] là [[Sosigenes]] và đã được thiết kế để gần đúng với [[năm chí tuyến]], đã được biết ít nhất là từ thời [[Hipparchus (nhà thiên văn)|Hipparchus]]. Nó có các năm thường 365 ngày được chia thành 12 tháng, và [[nhuận|ngày nhuận]] được thêm vào [[tháng hai|tháng Hai]] sau mỗi 4 năm. Vì thế năm Julius trung bình dài 365,25 ngày.
 
[[Lịch]] Julius được duy trì sử dụng cho đến tận [[thế kỷ 20]] ở một số quốc gia và hiện vẫn còn được một số nhà thờ [[Chính Thống giáo Đông phương|Chính thống giáo]] sử dụng. Tuy nhiên, quá nhiều ngày nhuận được thêm vào để phù hợp với các mùa thiên văn trong sơ đồ này. Trung bình, các điểm phân và điểm chí diễn ra sớm hơn khoảng 11 phút trên năm so với lịch Julius, làm cho lịch này có thêm một ngày dư ra sau mỗi 134 năm. Trong khi Hipparchus và có lẽ cả Sosigenes đã biết về sai khác này (mặc dù có thể không phải là giá trị chính xác), nó đã được coi là ít quan trọng. Tuy nhiên, nó tích lũy đáng kể theo thời gian và cuối cùng dẫn đến sự cải cách lịch năm [[1582]] trong đó người ta đã thay thế lịch Julius bằng [[lịch Gregory]] có độ chính xác cao hơn.
 
Ký hiệu [[Ngày kiểu cũ và kiểu mới|"kiểu cũ" (OS)]] đôi khi được sử dụng để chỉ ngày tháng trong lịch Julius, ngược lại với "kiểu mới" được dùng để chỉ ngày tháng trong lịch Gregory. Ký hiệu này được sử dụng khi có nguy cơ gây nhầm lẫn các số liệu về ngày tháng trong các văn bản.
 
== Từ La Mã tới Julius ==
Năm thông thường trong [[lịch La Mã]] trước đó chứa 12 tháng có tổng cộng 355 ngày. Để bổ sung, [[nhuận|tháng nhuận]], [[Mercedonius|Mensis Intercalaris]], đôi khi được chèn vào giữa tháng Hai và tháng Ba. Tháng nhuận này được tạo ra bằng cách chèn 22 ngày trước 5 ngày cuối cùng của tháng Hai, tạo ra tháng có 27 ngày. Nó bắt đầu khi tháng Hai bị cắt ngắn có 23 hay 24 ngày, vì thế nó có tác dụng thêm vào 22 hay 23 ngày đối với năm, tạo ra năm nhuận có 377 hay 378 ngày.
 
Theo [[Censorinus]] và [[Macrobius]], chu kỳ nhuận lý tưởng bao gồm các năm thường có 355 ngày xen kẽ với các năm nhuận, mà các năm nhuận này lại xen kẽ các năm 377 và 378 ngày. Trong hệ thống này, năm La Mã trung bình là 366,25 ngày trong 4 năm, làm cho nó có sự chuyển dịch trung bình khoảng 1 ngày trên năm khi so sánh với bất kỳ điểm chí hay điểm phân nào. [[Macrobius]] miêu tả một sự hoàn thiện hơn nữa, trong đó có 8 năm trong tổng số 24 năm chỉ có 3 năm nhuận có 377 ngày và 5 năm thường 355 ngày (16 năm còn lại là 8 năm thường, 4 năm nhuận 377 ngày và 4 năm nhuận 378 ngày). Sự hoàn thiện này làm cho độ dài trung bình của năm là 365,25 ngày trên 24 năm. Trong thực tế, các năm nhuận không diễn ra dưới dạng giản đồ phù hợp với các hệ thống lý tưởng này, mà được các [[giáo hoàng]] xác định. Như có thể xác định từ các chứng cứ lịch sử, chúng đã không diễn ra có quy luật như là các mô hình lý tưởng đề xuất. Chúng thường diễn ra trong năm thứ hai hay thứ ba của chu kỳ 4 năm, nhưng đôi khi bị bỏ quên lâu hơn, và thỉnh thoảng diễn ra trong 2 năm liên tiếp.
 
== Sai sót năm nhuận ==
Mặc dù lịch mới là đơn giản hơn nhiều so với lịch La Mã, nhưng các giáo hoàng hình như vẫn hiểu sai thuật toán. Họ thêm ngày nhuận sau mỗi 3 năm thay vì sau mỗi 4 năm. Theo Macrobius, sai sót này là kết quả của việc tính gộp, vì thế chu kỳ 4 năm đã được coi như là bao gồm cả năm thứ nhất và năm thứ tư. Điều này tạo ra quá nhiều ngày nhuận. [[Augustus|Caesar Augustus]] khắc phục sự khác biệt này bằng cách phục hồi tần suất chính xác sau 36 năm sai lầm. Ông cũng bỏ qua một số ngày nhuận nhằm tổ chức lại lịch của năm.
 
Trật tự lịch sử của các năm nhuận (tức các năm có ngày nhuận) trong thời kỳ này đã không được các nguồn sử liệu cổ đại đưa ra rõ ràng, mặc dù sự tồn tại của chu kỳ năm nhuận ba năm một lần đã được xác nhận bởi câu ghi lại trên bia có niên đại khoảng từ năm [[9 TCN]] tới năm [[8 TCN]]. Nhà niên đại học [[Joseph Scaliger]] năm [[1583]] đã thiết lập được là cải cách của Augustus đã diễn ra năm 8 TCN, và suy luận ra là chuỗi các năm nhuận thời kỳ đó là các năm 42, 39, 36, 33, 30, 27, 24, 21, 18, 15, 12, 9 TCN, 8, 12 v.v. Giả thiết này vẫn là giải pháp được chấp nhận rộng rãi nhất hiện nay. Đôi khi người ta cũng cho rằng năm 45 TCN cũng đã là năm nhuận.
 
Nhiều giải pháp khác cũng đã được đưa ra theo thời gian. Năm [[1614]], [[Johannes Kepler|Kepler]] đề nghị rằng chuỗi chính xác các năm nhuận thời đó là 43, 40, 37, 34, 31, 28, 25, 22, 19, 16, 13, 10 TCN, 8, 12 v.v. Năm [[1883]], nhà niên đại học người Đức Matzat đề nghị các năm 44, 41, 38, 35, 32, 29, 26, 23, 20, 17, 14, 11 TCN, 4, 8, 12 v.v., dựa vào một đoạn trong [[Dio Cassius]] có đề cập tới ngày nhuận của năm 41 TCN và được nói trong đó là ''mâu thuẫn với quy tắc (của Caesar)''. Trong những năm [[thập niên 1960]], Radke cho rằng cải cách trên thực tế được thực hiện khi Augustus trở thành giáo hoàng Maximus năm [[12 TCN]], và cho rằng chuỗi đúng phải là 45, 42, 39, 36, 33, 30, 27, 24, 21, 18, 15, 12 TCN, 4, 8, 12 v.v.
 
Năm [[1999]], một tờ [[giấy cói]] (''papyrus'') Ai Cập đã được công bố, nó cung cấp bảng [[lịch thiên văn]] cho năm [[24 TCN]] theo cả ngày tháng của người La Mã và người Ai Cập. Từ điều này, nó có thể chỉ ra là chuỗi có khả năng nhất là 44, 41, 38, 35, 32, 29, 26, 23, 20, 17, 14, 11, 8 TCN, 4, 8, 12 v.v, rất gần với chuỗi mà Matzat đưa ra. Chuỗi này chỉ ra rằng chuỗi năm nhuận Julius chuẩn được bắt đầu từ năm 4, năm thứ mười hai của cải cách của Augustus. Ngoài ra, theo chuỗi này thì năm La Mã thực tế đã đồng nhất với năm Julius đón trước trong khoảng thời gian từ năm 32 TCN tới 26 TCN. Điều này giả thiết rằng một trong các mục đích của việc tổ chức lại lịch của cải cách Augustus là để đảm bảo các ngày tháng quan trọng trong sự nghiệp của ông, nổi tiếng nhất là ngày thất thủ của Alexandria, ngày [[1 tháng 8]] năm [[30 TCN]], đã không bị ảnh hưởng bởi sự chỉnh sửa của ông.
Ngay sau cải cách của Julius, mười hai tháng của lịch La Mã đã được đặt tên là ''Ianuarius'', ''Februarius'', ''Martius'', ''Aprilis'', ''Maius'', ''Iunius'', ''Quintilis'', ''Sextilis'', ''September'', ''October'', ''November'' và ''December'', giống như tên gọi của chúng trước cải cách. Nhưng độ dài của chúng đã được thiết lập lại theo các giá trị như ngày nay. Tháng nhuận cũ ([[Mercedonius]]) đã bị bãi bỏ và thay thế bằng ngày nhuận duy nhất tại cùng thời điểm (tức là 5 ngày trước khi kết thúc tháng Februarius). Tháng đầu tiên của năm vẫn tiếp tục là ''Ianuarius'', giống như nó đã là như thế kể từ năm [[153 TCN]].
 
Người La Mã sau đó đổi tên các tháng theo tên gọi của [[Julius Caesar|Caesar]] và [[Augustus]], họ đổi tên ''Quintilis'' (nguyên thủy là "tháng thứ Năm", với tháng Ba = tháng thứ nhất) thành ''Iulius'' (tháng Bảy) vào năm [[44 TCN]] và ''Sextilis'' ("tháng thứ Sáu") thành ''Augustus'' (tháng Tám) vào năm [[8 TCN]]. (Cũng lưu ý rằng chữ cái [[J]] đã không có cho đến tận [[thế kỷ 17]]). ''Quintilis'' đã được đổi tên để tưởng nhớ tới Caesar do nó là tháng sinh nhật của ông. Theo ''senatusconsultum'' được Macrobius trích dẫn, ''Sextilis'' đã được đổi tên để tưởng nhớ Augustus vì một số trong số các sự kiện đáng kể nhất trong thời kỳ nắm quyền của ông, mà tột đỉnh của nó là thất thủ của [[Alexandria]], đã diễn ra trong tháng này.
 
Các tháng khác cũng đã được đổi tên bởi các vị hoàng đế khác, nhưng nói chung không có sự thay đổi nào trong số này tồn tại sau khi họ chết. [[Caligula]] đổi tên ''September'' (tức "tháng thứ Bảy") thành [[Germanicus]]; [[Nero]] đổi tên ''Aprilis'' (tháng Tư) thành Neroneus, ''Maius'' (tháng Năm) thành Claudius và ''Iunius'' (tháng Sáu) thành Germanicus; và [[Domitianus (Hoàng đế)|Domitian]] đổi tên ''September'' thành [[Germanicus]] và ''October'' ("tháng thứ Tám") thành Domitianus. Vào thời khác, ''September'' cũng đã được đổi tên thành [[Antoninus Pius|Antoninus]] và [[Marcus Claudius Tacitus|Tacitus]], và ''November'' ("tháng thứ Chín") đã được đổi tên thành [[Faustina già|Faustina]] và Romanus. [[Commodus]] là người duy nhất trong việc đổi tên cả 12 tháng theo các tên mà ông chấp nhận, theo trật tự từ tháng 1 tới tháng 12 là: ''Amazonius'', ''Invictus'', ''Felix'', ''Pius'', ''Lucius'', ''Aelius'', ''Aurelius'', ''Commodus'', ''Augustus'', ''Herculeus'', ''Romanus'', ''Exsuperatorius''.
 
Tồn tại lâu hơn cả trong số các tên gọi sớm nở tối tàn của thời kỳ các hoàng đế La Mã hậu Augustus là các tên gọi do [[Charlemagne]] đưa ra. Ông đổi tên tất cả các tháng theo cách gọi nông nghiệp trong [[tiếng Đức cổ]]. Chúng đã được sử dụng cho đến tận [[thế kỷ 15]], và với một số sửa đổi thì dùng cho đến tận cuối [[thế kỷ 18]] tại [[Đức]] và [[Hà Lan]], theo trật tự từ tháng 1 đến tháng 12 là: ''Wintarmanoth'' (tháng mùa đông), ''Hornung'' (mùa xuân), ''Lentzinmanoth'' (tháng ăn chay), ''Ostarmanoth'' (tháng Phục Sinh), ''Winnemanoth'' (tháng chăn thả), ''Brachmanoth'' (tháng cày bừa), ''Heuvimanoth'' (tháng cỏ khô), ''Aranmanoth'' (tháng thu hoạch), ''Witumanoth'' (tháng củi gỗ), ''Windumemanoth'' (tháng rượu vang), ''Herbistmanoth'' (mùa thu/tháng thu hoạch) và ''Heilagmanoth'' (tháng Thánh). Sự phiên dịch tên gọi của các tháng này ngày nay vẫn còn được sử dụng trong một số [[nhóm ngôn ngữ gốctộc Slav|ngôn ngữ Slav]], chẳng hạn như trong [[tiếng Ba Lan]].
 
== Độ dài các tháng ==
Phương pháp chủ yếu mà người La Mã đã dùng để xác định năm cho các mục đích ngày tháng là đặt tên nó theo ngày mà hai quan chấp chính tối cao nhận nhiệm vụ. Từ năm [[153 TCN]], họ đã nhận công việc vào ngày [[1 tháng 1]], và Julius Caesar đã không thay đổi sự bắt đầu của năm. Vì vậy năm chấp chính này đã là năm theo tên quan chấp chính hoặc năm được đặt tên. Các năm La Mã đã được đặt tên theo cách này cho đến khi quan chấp chính cuối cùng đã được đề cử vào năm [[541]]. Rất ít khi người La Mã đánh số năm kể từ khi [[Sự thành lập La Mã|thành lập thành phố Roma]], ''ab urbe condita'' (AUC). Phương pháp này đã được các nhà sử học La Mã sử dụng để xác định số năm từ một sự kiện cho đến một sự kiện khác mà không dùng để xác định năm. Các nhà sử học khác nhau có các ngày tháng khác nhau cho ngày thành lập [[Roma]]. [[Fasti|''Fasti Capitolini'']], một bản khắc chứa danh sách chính thức các quan chấp chính đã được Augustus công bố, sử dụng [[kỷ nguyên]] năm [[752 TCN]]. Kỷ nguyên được [[Marcus Terentius Varro|Varro]] sử dụng là năm [[753 TCN]] đã được nhiều nhà sử học hiện đại chấp nhận. Vì thế các biên tập viên thời kỳ [[Phục Hưng]] thường bổ sung nó vào các bản thảo mà họ xuất bản, tạo ra một ấn tượng sai là người La Mã đã đánh số các năm của họ. Phần lớn các nhà sử học hiện đại ngầm giả sử rằng nó bắt đầu vào ngày mà các quan chấp chính nhận nhiệm vụ và các tài liệu cổ như ''Fasti Capitolini'' (sử dụng các hệ thống AUC khác) cũng làm tương tự. Tuy nhiên, năm AUC của Varro về hình thức không bắt đầu vào ngày [[1 tháng 1]], mà là vào "ngày Thành lập", [[21 tháng 4]]. Điều này đã ngăn không cho nhà thờ La mã thời kỳ đầu không kỷ niệm ngày Phục Sinh sau ngày [[21 tháng 4]] vì các hoạt động lễ hội gắn liền với Ngày Thành lập đã mâu thuẫn với nghi lễ trọng thể của [[mùa ăn chay]] là điều phải tuân thủ cho đến tận thứ bảy trước Lễ Phục Sinh vào ngày chủ nhật.
 
Bổ sung thêm cho các năm quan chấp chính thì người La Mã đôi khi sử dụng năm cầm quyền của hoàng đế. ''Anno Diocletiani'', được đặt tên theo [[Diocletianus|Diocletian]], thông thường được những người Thiên chúa giáo gốc [[Alexandria]] sử dụng để đánh số các lễ Phục Sinh của họ trong [[thế kỷ 4]] và [[thế kỷ 5|5]]. Năm [[537]], [[JustinianJustinianus I|Justinian]] đã ra lện từ nay trở đi thì ngày tháng phải thêm cả tên của hoàng đế, để bổ sung thêm cho [[năm chỉ mục]] và tên quan chấp chính (điều cuối cùng này chỉ kết thúc 4 năm sau đó). Sắc lệnh này làm cho năm của [[Đế chế Byzantin|Byzantin]] bắt đầu vào ngày [[1 tháng 9]], nó vẫn được sử dụng tại các giáo hội [[Chính Thống giáo Đông phương|Chính thống giáo phương Đông]] để tính thời điểm bắt đầu của [[năm tế lễ]]. Năm [[525]] [[Dionysius Exiguus]] đề nghị hệ thống [[công Nguyên|anno Domini]], nó dần dần được phổ biến trong thế giới Thiên chúa giáo phương Tây, khi mà hệ thống này được [[Bede]] chấp nhận. Các năm được đánh số từ ngày được cho là ngày hiện thân của Chúa Giê-su hay ngày [[Lễ Truyền Tin]], tức ngày [[25 tháng 3]], mặc dù nó nhanh chóng được đổi sang ngày [[Lễ Giáng Sinh]], sau đó lại quay lại ngày Lễ Truyền Tin tại Anh, và năm được đánh số cuối cùng đã bắt đầu vào Lễ Phục Sinh tại Pháp.
 
== Từ Julius tới Gregory ==
Nói chung lịch Julius đã được sử dụng ở [[châu Âu]] từ thời kỳ [[Đế quốc La Mã|Đế chế La Mã]] cho đến tận năm [[1582]], khi [[Giáo hoàng Grêgôriô XIII|Giáo hoàng Gregory XIII]] công bố [[lịch Gregory]], nó nhanh chóng được các quốc gia Công giáo chấp thuận. Các quốc gia theo [[Tin Lành]] đã theo lịch này muộn hơn, còn các nước [[Đông Âu]] thì còn muộn hơn nữa. [[Vương quốc Anh]] có ngày thứ Năm [[14 tháng 9]] năm [[1752]] tiếp theo ngay sau ngày thứ Tư [[2 tháng 9]] năm [[1752]]. [[Thụy Điển]] chấp nhận lịch mới năm [[1753]], nhưng có thời kỳ 12 năm bắt đầu từ năm [[1700]] đã sử dụng [[Lịch Thụy Điển|lịch Julius sửa đổi]]. [[Nga]] duy trì lịch Julius cho đến tận [[Cách mạng Nga năm (1917)|Cách mạng Nga]] (chính vì thế nó được gọi là '[[Cách mạng Tháng Mười|Cách mạng tháng Mười Nga]]' nhưng diễn ra vào tháng 11 theo lịch Gregory) năm [[1917]], trong khi [[Hy Lạp]] vẫn tiếp tục sử dụng lịch Julius cho đến tận năm [[1923]].
 
Mặc dù tất cả các quốc gia Đông Âu đã chấp nhận lịch Gregory trước hoặc vào năm 1923, nhưng các [[Chính Thống giáo Đông phương|Giáo hội Chính thống giáo]] trong nước họ thì lại không như vậy. [[Lịch Julius cải cách]] đã được đưa ra trong hội nghị tôn giáo ở [[Constantinopolis|Constantinople]] tháng 5 năm 1923, chứa các phần theo [[Mặt Trời]] mà chúng đã và sẽ đồng nhất với lịch Gregory cho đến tận năm [[2800]], và phần theo [[Mặt Trăng]] để tính [[Lễ Phục Sinh]] theo thiên văn tại [[Jerusalem]]. Tất cả các giáo hội Chính thống giáo đã từ chối việc chấp nhận phần theo Mặt Trăng, vì thế gần như tất cả các giáo hội Chính thống giáo vẫn tiếp tục kỷ niệm Lễ Phục Sinh theo lịch Julius (chỉ có [[Giáo hội Chính thống giáo Phần Lan]] sử dụng lễ Phục Sinh Gregory). Phần theo Mặt Trời chỉ được một số giáo hội Chính thống giáo chấp nhận, bao gồm [[Giáo hội Chính thống giáo Constantinople|Constantinople]], [[Giáo hội Chính thống giáo Alexandria|Alexandria]], [[Giáo hội Chính thống giáo Antioch|Antioch]], [[Giáo hội Hy Lạp|Hy Lạp]], [[Giáo hội Chính thống giáo Síp|Síp]], [[Giáo hội Chính thống giáo Romania|Romania]], [[Giáo hội Chính thống giáo Ba Lan|Ba Lan]], [[Giáo hội Chính thống giáo Bulgaria|Bulgaria]] (năm [[1963]]), và [[Giáo hội Chính thống giáo tại Mỹ]] (viết tắt trong [[tiếng Anh]]: OCA) mặc dù một số giáo xứ OCA được cho phép sử dụng lịch Julius). Vì thế, các giáo hội này kỷ niệm [[Lễ Thánh Đản]] cùng một ngày với những người Thiên chúa giáo phương Tây là [[25 tháng 12]] theo lịch Gregory cho đến tận năm 2800. Các giáo hội Chính thống giáo [[Giáo hội Chính thống giáo Jerusalem|Jerusalem]], [[Giáo hội Chính thốngThống giáo Nga|Nga]], [[Giáo hội Chính thống giáo Serbia|Serbia]], [[Giáo hội Chính thống giáo và tòa thánh Gruzia|Gruzia]], [[Lịch sử Ki tô giáo tại Ukraina|Ukraina]] và những [[người Hy Lạp theo lịch cũ]] vẫn tiếp tục sử dụng lịch Julius đối với những ngày tháng cố định của họ, vì thế họ kỷ niệm Lễ Thánh Đản vào [[25 tháng 12]] theo lịch Julius (tức [[7 tháng 1]] theo lịch Gregory cho đến tận năm 2100).
 
== Xem thêm ==
* [[Lịch Gregory]]
* [[Ngày Julius]]
* [[Năm Julius (thiên văn)|Năm Julius]]
* [[Lịch Julius đón trước]]
* [[Lịch La Mã]]
986.568

lần sửa đổi