Khác biệt giữa các bản “M-113”

n
Robot: Sửa đổi hướng
n (Bot: Di chuyển 26 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q462407 Addbot)
n (Robot: Sửa đổi hướng)
Tuy vậy, với khả năng di chuyển địa hình tốt và sự thiếu thốn vũ khí chống tăng của đối phương, M-113 ngày càng được phát triển chiến thuật sử dụng như một xe chiến đấu. Lính bộ binh ở trên xe M-113 chiến đấu từ trong xe và khi đã đánh bật đối phương ra khỏi vị trí thì bộ binh mới bắt đầu xuống xe để chiếm giữ. M-113 dần được trang bị thêm nhiều loại khí tài bao gồm tấm chắn đạn cho khẩu .50 cal, súng máy M60 gắn ở hai bên sườn, bao cát và nhiều loại giáp tự chế khác được bố trí quanh xe như công sự để binh lính có thể chiến đấu mọi hướng từ trên xe. Việc trang bị dần trở nên chuẩn hóa vào năm 1966 với gói nâng cấp “A” bao gồm giáp chắn đạn cho khẩu .50 cal, giáp che 360 độ cho vị trí của xa trưởng và 2 súng máy M60 bên sườn cùng với tấm chắn đạn. Với cấu hình này, M-113 trở thành Xe bọc thép tấn công kị binh (''Armored Cavalry Assault Vehicle'' - '''ACAV'''), một khái niệm mới do thiếu tá Martin D. Howell, chỉ huy của liên đội 1, Trung đoàn kị binh bọc thép số 11, đề ra. Ngoài ra còn có gói nâng cấp “B” chỉ bao gồm giáp cho súng máy và bao quanh 360 độ vị trí của xa trưởng, thường được dùng trên các xe chở pháo cối.
 
So với khái niệm [[Xe chiến đấu bộ binh]] (''Infantry fighting vehicle'' - '''IFV''') truyền thống, ACAV có phần khác biệt để phù hợp với cách đánh ở Viêt Nam. Không trang bị một loại hỏa lực mạnh để chống tăng, dù một số phiên bản M-113 có thể được trang bị súng không giật, tên lửa chống tăng, nhưng ACAV lại có hỏa lực tổ hợp bao gồm 1 súng máy .50 cal (đôi khi là cả súng phóng lựu 40mm) và 2 súng máy 7,62mm chưa kể đến các súng cá nhân của binh sĩ. Với các tấm giáp bảo vệ trên nóc, binh sĩ trên xe M-113 có thể chiến đấu 360 độ quanh xe một cách dễ dàng, không bị hạn chế mà vẫn có một phần giáp bảo vệ. Ở hầu hết các đơn vị, sàn xe được lót bao cát để giảm hiệu quả của mìn. Để chống mìn tốt hơn nữa, ACAV còn được gắn giáp dưới bụng là các tấm [[titani|titan]]. Một số vật dụng trong xe được dỡ bỏ để lấy không gian chứa đạn dược và vật dụng của binh sĩ. Các tấm chắn bùn cũng được tháo ra để tránh cho bùn đất đóng cứng vào.
 
Trang bị cơ bản của một chiếc ACAV gồm 1 súng máy .50 M2HB, 2 súng máy 7,62mm M60. Tổ lái thông thường: lái xe, xa trưởng/ xạ thủ M2HB, 2 xạ thủ M60, 2 người nạp đạn. Mọi thành viên đều có một súng M16 và dùng chung một súng phóng lựu M79 40mm. Cơ số đạn: 3500 viên .50 cal, 8500 viên 7,62mm, 5000 viên 5,56mm, 150 viên đạn súng phóng lựu 40mm.
Trước năm 1966, trong nhiều trận giao tranh, Quân Giải phóng nhiều lần bẫy hoặc bắt sống nhiều xe tăng và xe thiết giáp của Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, do không có nhân sự nên họ không thể sử dụng được. Đến khi B16 được thành lập, họ đã tổ chức nghiên cứu về xe tăng M-41 và xe thiết giáp M-113 của đối phương, nhưng không có xe thật mà chỉ nghiên cứu trên các bản vẽ nên cũng hạn chế nhiều. Đây cũng là một nhược điểm lớn, nên sau này xe thì chiếm được nhiều mà đưa về được ít<ref>Ngay trong trận tập kích ngày 22 tháng 3 năm 1966, các xe chiếm được đều không thể đưa về đến nơi. Chiếc xe M-41 duy nhất về được an toàn là do Phùng Văn Mười, đảng viên Cộng sản, một điệp viên được cài vào làm thiếu úy thiết giáp Việt Nam Cộng hòa lái về.</ref>. Chỉ sau khi có chiếc xe chiến lợi phẩm này, Quân Giải phóng bắt đầu mới có thể huấn luyện sử dụng.
 
Ngày 25 tháng 5 năm 1971, Đại đội hỗn hợp tăng - thiết giáp đầu tiên mang phiên hiệu Đại đội 33 của Quân Giải phóng được thành lập, với vốn liếng đầu tiên 6 xe chiến lợi phẩm [[M24 Chaffee|M-24]] (1), [[M8 Greyhound|M-8]] (1), [[M3Xe Stuarttăng M3|M-5A1]] (1) (chiến lợi phẩm trong trận phản công [[Cuộc hành quân Chenla II]]), [[M41 Walker Bulldog|M-41]] (1) và M-113 (2) (chiến lợi phẩm trong trận phản công [[Cuộc hành quân Toàn Thắng TT02]]). Thậm chí, với 4 xe tăng hạng nhẹ, họ còn thực hiện cả cuộc tấn công vào cứ điểm [[Sa Mát]] ngày l tháng 4 năm 1972, gây hoang mang cho binh sĩ đồn trú của Việt Nam Cộng hòa. Tuy phải phá hủy 3 xe bị hư hỏng, nhưng trong trận [[Lộc Ninh]] sau đó, họ đã chiếm được 20 xe gồm 4 xe M-41, 16 xe M-113 (có 3 xe phun lửa, 1 xe xích vận tải, 1 xe công trình cần trục) gần như còn nguyên vẹn và thu dụng được rất nhiều phụ tùng tháo dỡ từ xác xe.
 
Tuy thu được số lượng xe chiến lợi phẩm đáng kể, nhưng do vẫn còn sự hiện diện của quân Mỹ với hỏa lực hùng hậu, cộng với việc còn thiếu kinh nghiệm chiến thuật sử dụng tăng thiết giáp, các chỉ huy Quân Giải phóng đã không liều lĩnh tung các đơn vị ra tham chiến. Họ vẫn tiếp tục ẩn giấu các xe chiến lợi phẩm và dùng chúng để huấn luyện sử dụng các tổ lái M-41, M-113 đào tạo tại chỗ phòng khi cần thiết về sau này.
986.568

lần sửa đổi