Khác biệt giữa các bản “Theodosius II”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (→‎Chiến tranh với người Rợ và Ba Tư: tên bài chính, replaced: Sicily → Sicilia using AWB)
n
 
==Tiểu sử==
===Thời kỳ ban đầu===
Theodosius sinh năm 401, là con trai duy nhất của Hoàng đế Arcadius và người vợ gốc [[Người Frank|Frank]] [[Aelia Eudoxia]]. Vào tháng 1 năm [[402]], ông được cha phong làm đồng [[Augustus (danh hiệu)|Augustus]], do vậy trở thành người trẻ tuổi nhất từng nắm giữ xưng hiệu này trong [[lịch sử La Mã]].<ref>http://www.roman-empire.net/constant/theodosius-II.html</ref> Năm [[408]], cha ông qua đời và cậu bé bảy tuổi đã trở thành [[Hoàng đế Đông La Mã]].
 
[[File:Car bed kap2.jpg|left|thumb|Bức tường thành Theodosius]]
Chính quyền Đông La Mã lúc đầu bị viên [[Pháp quan thái thú]] (''[[Praetorian prefect|Praetorian Prefect]]'') [[Anthemius (praetorian prefect)|Anthemius]] khống chế hoàn toàn, cũng chính ông là người đã giám sát việc xây dựng các bức tường thành quanh thủ đô Constantinople nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trước các cuộc xâm lấn của người rợ ngày càng tăng.
 
Chính quyền Đông La Mã lúc đầu bị viên [[Pháp quan thái thú]] (''[[Praetorian prefect|Praetorian Prefect]]'') [[Anthemius (praetorian prefect)|Anthemius]] khống chế hoàn toàn, cũng chính ông là người đã giám sát việc xây dựng các bức tường thành quanh thủ đô Constantinople nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trước các cuộc xâm lấn của người rợ ngày càng tăng.
Năm [[414]], chị của Theodosius là [[Pulcheria]] được tôn làm ''Augusta'' và đảm nhận việc nhiếp chính. Đến năm [[416]] Theodosius được kế thừa tước hiệu Augustus chính thức tự gánh vác việc nước và thời kỳ nhiếp chính kết thúc, thế nhưng người chị của ông vẫn còn để lại ảnh hưởng rất lớn đối với việc trị nước nhất là về tôn giáo. Tháng 6 năm [[421]], Theodosius kết hôn với Aelia Eudocia, một phụ nữ gốc [[Hy Lạp]].<ref>{{chú thích sách |author= Duncan, Alistair |title= The noble heritage: Jerusalem and Christianity, a portrait of the Church of the Resurrection |publisher= Longman |year= 1974|page= 28|isbn= 0-582-78039-X |quote= Năm 438 Hoàng hậu Eudocia, vợ của Theodosius II, đã đến thăm Jerusalem. Sau khi quyên góp tiền bạc nhằm xây dựng những nhà thờ mới và trở về Constantinople, Eudocia đã bị người chị dâu thay thế do gốc gác Hy Lạp của mình. Chỉ chừa lại một phần các nhà thờ của bà. }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Morgan, Robin |title= Sisterhood is global: the international women's movement anthology |publisher= Feminist Press |year= 1996|page=270 |isbn= 1-55861-160-6|quote= Phụ nữ Hy Lạp vẫn còn xuất hiện trong suốt thời Byzantine.
 
Năm [[414]], chị của Theodosius là [[Pulcheria]] được tôn làm ''Augusta'' và đảm nhận việc nhiếp chính. Đến năm [[416]] Theodosius được kế thừa tước hiệu Augustus chính thức tự gánh vác việc nước và thời kỳ nhiếp chính kết thúc, thế nhưng người chị của ông vẫn còn để lại ảnh hưởng rất lớn đối với việc trị nước nhất là về tôn giáo. Tháng 6 năm [[421]], Theodosius kết hôn với Aelia Eudocia, một phụ nữ gốc [[Hy Lạp]].<ref>{{chú thích sách |author= Duncan, Alistair |title= The noble heritage: Jerusalem and Christianity, a portrait of the Church of the Resurrection |publisher= Longman |year= 1974|page= 28|isbn= 0-582-78039-X |quote= Năm 438 Hoàng hậu Eudocia, vợ của Theodosius II, đã đến thăm Jerusalem. Sau khi quyên góp tiền bạc nhằm xây dựng những nhà thờ mới và trở về Constantinople, Eudocia đã bị người chị dâu thay thế do gốc gác Hy Lạp của mình. Chỉ chừa lại một phần các nhà thờ của bà. }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Morgan, Robin |title= Sisterhood is global: the international women's movement anthology |publisher= Feminist Press |year= 1996|page=270 |isbn= 1-55861-160-6|quote= Phụ nữ Hy Lạp vẫn còn xuất hiện trong suốt thời Byzantine.
Năm 421, Hoàng đế Theodosius II kết hôn với một người phụ nữ dị giáo người Athena; sau lễ rửa tội, cô được đặt tên là Eudocia. }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Mahler, Helen A. |title= Empress of Byzantium |publisher= Coward-McCann |year= 1952|page= 106|oclc =331435 |quote= Là dân Athena, con gái của Leontius, một học giả thành Athena. Trước khi cưới, cô sẽ mang tên của mẹ mình trong lễ rửa tội thiêng liêng, Hoàng hậu Eudoxia cao quý nhưng vì là dân Hy Lạp gốc Athena nên cái tên sẽ được phát âm thành Eudocia. }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Cheetham, Nicolas |title= Mediaeval Greece |publisher= Yale University Press |year= 1981|page=12 |isbn= 0-300-10539-8|quote= Vô cùng tự hào về dòng tộc và văn hóa Hy Lạp, Eudocia đã lấn lướt bà… }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Cuming, G. J. ; Baker, Derek ; Ecclesiastical History Society |title= Popular belief and practice: Volume 8 of Studies in church history |publisher= CUP Archive |year= 1972|page=13 |isbn= 0-521-08220-X |quote= Bản thân Eudocia là con gái của một nhà triết học dị giáo thành Athena, chấp nhận đức tin mới trong một tâm trạng hoàn toàn tự nguyện. Rất ý thức về di sản Hy Lạp của mình, như trong bài diễn văn nổi tiếng của bà trước toàn thể dân chúng xứ Antioch,}}</ref> Cả hai có một người con gái tên là [[Licinia Eudoxia]].
 
Năm 421, Hoàng đế Theodosius II kết hôn với một người phụ nữ dị giáo người Athena; sau lễ rửa tội, cô được đặt tên là Eudocia. }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Mahler, Helen A. |title= Empress of Byzantium |publisher= Coward-McCann |year= 1952|page= 106|oclc =331435 |quote= Là dân Athena, con gái của Leontius, một học giả thành Athena. Trước khi cưới, cô sẽ mang tên của mẹ mình trong lễ rửa tội thiêng liêng, Hoàng hậu Eudoxia cao quý nhưng vì là dân Hy Lạp gốc Athena nên cái tên sẽ được phát âm thành Eudocia. }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Cheetham, Nicolas |title= Mediaeval Greece |publisher= Yale University Press |year= 1981|page=12 |isbn= 0-300-10539-8|quote= Vô cùng tự hào về dòng tộc và văn hóa Hy Lạp, Eudocia đã lấn lướt bà… }}</ref><ref>{{chú thích sách |author= Cuming, G. J. ; Baker, Derek ; Ecclesiastical History Society |title= Popular belief and practice: Volume 8 of Studies in church history |publisher= CUP Archive |year= 1972|page=13 |isbn= 0-521-08220-X |quote= Bản thân Eudocia là con gái của một nhà triết học dị giáo thành Athena, chấp nhận đức tin mới trong một tâm trạng hoàn toàn tự nguyện. Rất ý thức về di sản Hy Lạp của mình, như trong bài diễn văn nổi tiếng của bà trước toàn thể dân chúng xứ Antioch,}}</ref> Cả hai có một người con gái tên là [[Licinia Eudoxia]].
 
Theodosius tỏ ra ngày càng quan tâm đến Kitô giáo, cũng bởi chịu sự ảnh hưởng từ người chị sùng đạo Pulcheria, cũng bởi vậy mà ông đã bắt đầu một [[Chiến tranh La Mã-Ba Tư (421-422)|cuộc chiến tranh chống lại nhà Sassanid]] ([[421]]-[[422]]) vì lý do họ đàn áp người Kitô giáo; cuộc chiến kết thúc trong hòa hoãn, người La Mã đã buộc phải chấp nhận hoà bình khi hay tin đại quân người Hun đang chuẩn bị vây hãm đe dọa Constantinople.<ref>Warren T. Treadgold, ''A history of the Byzantine state and society'', Stanford University Press, 1997, ISBN 0-8047-2630-2, p. 90.</ref>
===Giáo dục và luật lệ===
[[File:34-manasses-chronicle.jpg|thumb|right|Tranh minh họa Hoàng đế Theodosius II cùng với Hoàng hậu Aelia Eudocia từ thời [[Trung cổ]].]]
[[Hình:Menologion of Basil 061.jpg|nhỏ|300px|Theodosius cùng quần thần nghênh đón di hài của [[John Chrysostom]]. Bức tiểu họa có từ thế kỷ thứ 11.]]
Năm [[425]], Theodosius cho thành lập trường [[Đại học Constantinople]] với 31 giáo sư (15 người giảng dạy bằng tiếng Latin và 16 người giảng dạy bằng tiếng Hy Lạp). Các môn học bao gồm luật học, triết học, y học, số học, hình học, thiên văn học, âm nhạc và hùng biện.
 
Năm [[429]], Theodosius đã bổ nhiệm một ủy ban với nhiệm vụ thu thập tất cả các luật lệ kể từ thời Đại đế [[Constantinus Đại đế|Constantinus]] và tạo ra một hệ thống luật chính thức hoàn chỉnh. Kế hoạch này đã bị bỏ dở, nhưng công việc của ủy ban thứ hai lại được tổ chức ở Constantinople, họ vẫn được phân công thu thập tất cả các bộ luật chung và phải hoàn thành chúng đúng thời hạn, để rồi bộ luật tập của họ được công bố với tên gọi [[Bộ luật Theodosianus]] vào năm [[438]]. Bộ luật của Theodosius II gồm những sắc lệnh tổng hợp được ban hành từ thời Đại đế Constantinus, tạo thành cơ sở cho các bộ luật của Hoàng đế [[Justinian I]] vào thế kỷ sau.
 
===Chiến tranh với người Rợ và Ba Tư===
[[Đế quốc Đông La Mã]] còn bị đe dọa từ các cuộc đột kích ngắn hạn của [[người Hun]]. Năm [[447]], đại quân của người Hun đã tràn qua vùng [[Balkan]], phá hủy một trong số những thành phố ở [[Serdica]] ([[Sofia]]) rồi tiến quân tới Athyra ([[Büyükçekmece]]) ở vùng ngoại ô của Constantinople nhằm trực tiếp uy hiếp kinh đô. Sau đó, đích thân [[Anatolius (quan chấp chính)|Anatolius]] đã chủ trương đàm phán cầu hòa khiến hai bên đạt được một thỏa thuận ngưng chiến lâu dài với điều kiện mỗi năm Đông La Mã phải cống nạp cho họ một số lượng lớn vàng bạc khiến cho ngân khố quốc gia ngày càng giảm sút.
 
===Tranh luận Thần học===
[[Hình:Menologion of Basil 061.jpg|nhỏ|300px250px|Theodosius cùng quần thần nghênh đón di hài của [[John Chrysostom]]. Bức tiểu họa có từ thế kỷ thứ 11.]]
Trong một lần viếng thăm [[Syria]], Theodosius đã gặp tu sĩ [[Nestorius]], một nhà thuyết giáo nổi tiếng. Vì mến mộ tài năng lẫn đức hạnh của ông mà hoàng đế đã bổ nhiệm Nestorius làm [[Tổng giám mục thành Constantinople]] vào năm 428. Vừa nhậm chức chưa được bao lâu, Nestorius đã dính vào vụ tranh luận dữ dội giữa hai phe Thần học chỉ vì khác biệt trong quan điểm [[Thiên Chúa giáo]]. Nestorius cố gắng tìm cách dung hòa giữa hai phe, nhấn mạnh thực tế rằng Đức Chúa được sinh ra như một người bình thường, cứ khăng khăng đòi gọi [[Maria|Đức Mẹ Đồng Trinh Maria]] là ''Theotokos'' ("Người sinh Thiên Chúa"), và những người từ chối danh hiệu đó vì Thiên Chúa chỉ là một hữu thể vĩnh cửu, cũng có thể ngài chưa từng được sinh ra. Nestorius đề nghị dùng danh hiệu ''Christotokos'' ("Người sinh Chúa Kitô") như một sự thỏa hiệp nhưng không được hai phe công nhận. Ông bị cáo buộc là đã tách rời tính chất thiêng liêng và nhân tính của Chúa Kitô, kết quả là xuất hiện "hai Chúa Kitô", một tà thuyết sau này được gọi là [[giáo thuyết Nestoria]]. Dù lúc đầu được sự ủng hộ hoàng đế, Nestorius đã gặp phải một đối thủ mạnh mẽ từ Tổng giám mục [[Cyril thành Alexandria]]. Theo yêu cầu của Nestorius, hoàng đế đã cho mời một [[Công đồng Ephesus lần thứ nhất|công đồng]] được triệu tập ở [[Ephesus]] vào năm [[431]]. Hội đồng này đã chính thức xác nhận danh hiệu ''Theotokos'' và lên án Nestorius, khiến ông phải trở về tu viện của mình ở Syria và cuối cùng bị lưu đày đến một tu viện xa xôi ở [[Ai Cập]] rồi qua đời trong nỗi cô đơn tột cùng.