Khác biệt giữa các bản “Sư đoàn 9, Quân đội nhân dân Việt Nam”

không có tóm lược sửa đổi
{{xóa|thử nghiệm}}
 
'''Sư đoàn 9''' thuộc [[Quân đoàn 4, Quân đội Nhân dân Việt Nam]] thành lập ngày [[2 tháng 9]] năm [[1965]] tại căn cứ Suối Nhung, tỉnh Phước Thành miền [[Đông Nam Bộ]] ([[chiến khu Đ]]) trên cơ sở hai trung đoàn Q761 và Q762. Các cán bộ chỉ huy của sư đoàn hầu hết là các chỉ huy của hai trung đoàn này. Sư đoàn trưởng đầu tiên là danh tướng [[Hoàng Cầm]]. Mật danh của sư đoàn là '''Công trường 9'''.
 
Vừa mới thành lập, Sư đoàn 9 đã giao chiến với [[Sư đoàn 1 Bộ binh, Quân đội Hoa Kỳ]] (Sư đoàn Anh Cả Đỏ) và [[Sư đoàn 5, Quân lực Việt Nam Cộng hòa]] khi hai đơn vị đối phương này tiến hành chiến dịch Bushmaster 1 tấn công vào căn cứ của Sư đoàn 9 hồi tháng 11 năm 1965 ở Dầu Tiếng. [[Trận Bàu Bàng, 1965|Trận Bàu Bàng năm 1965]] này là trận đánh cấp sư đoàn đầu tiên trên chiến trường miền Nam của hai phía trong Chiến tranh Việt Nam. Năm 1966, Sư đoàn 9 lại giao chiến với Sư đoàn 1 Bộ binh Hoa Kỳ trong [[Chiến dịch Rolling Stone]] ở Tân Bình (tháng 2) và [[chiến dịch Attleboro]] ở [[Dầu Tiếng]] (tháng 11). Đến năm 1967, một lần nữa tại Bàu Bàng, Sư đoàn 9 lại giao chiến với Sư đoàn 1 trong [[chiến dịch Junction City]]. Sư đoàn 9 còn tham gia cuộc [[Tổng tân công và nổi dậy Tết Mậu Thân]].
 
Ngày 20 tháng 7 năm 1974, khi Quân đoàn 4 được thành lập, Sư đoàn 9 được biên chế vào quân đoàn này và cùng toàn quân đoàn tham gia [[Chiến dịch Đường 14 - Phước Long]], [[Trận Xuân Lộc|chiến dịch tấn công Xuân Lộc]].
Người dùng vô danh