Khác biệt giữa các bản “M-113”

n
→‎M-113 trong Chiến tranh Việt Nam: chính tả, replaced: dầy → dày using AWB
n (→‎Các nước sử dụng: tên bài chính, replaced: Lebanon → Liban (2) using AWB)
n (→‎M-113 trong Chiến tranh Việt Nam: chính tả, replaced: dầy → dày using AWB)
Ban đầu, các xe chuyển giao cho phía Việt Nam Cộng hòa được đem huấn luyện và trắc nghiệm trong các cuộc hành quân bộ binh có sử dụng cơ giới. Ngày 30 tháng 2 năm 1962, 32 chiếc M-113 được chuyển giao cho các đơn vị chiến đấu, trong đó 30 chiếc được tổ chức thành hai đại đội thiết giáp, mỗi đại đội có 15 chiếc. Mỗi đại đội gồm có 3 chi đội chiến đấu và 1 chi đội yểm trợ, mỗi chi đội chiến đấu có 3 M-113, chi đội yểm trợ có 4 chiếc M-113, trong đó có 3 chiếc được gắn súng cối 60 ly và 3 súng phóng hỏa tiễn 3.5 và một ban chỉ huy đại đội có 2 M-113, một dành cho đại đội trưởng và một cho đội Bảo trì và sửa chữa. Hai đại đội M-113 ngay lập tức được đưa đến đồng bằng Cửu Long, trực thuộc Sư đoàn 7 và Sư đoàn 21 Bộ binh, tham gia bảo vệ trục lộ huyết mạch nối miền Tây với Sài Gòn.
 
Thời gian đầu tham chiến, M-113 chứng tỏ là một loại thiết giáp đa năng, có thể sử dụng hầu như trên mọi địa hình trong toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam, từ rừng núi cao nguyên đến đồng bằng sông ngòi chằng chịt. Với lớp giáp khá dầydày, tốc độ nhanh, công suất lớn và đặc biệt với khả năng lội nước rất nhanh, M-113 đã gây rất nhiều khó khăn cho Quân Giải phóng. Lực lượng Quân Giải phóng hầu như không có vũ khí chống tăng hoặc quá thô sơ, hoàn toàn không có kinh nghiệm chống thiết giáp. Tâm lý e ngại phải đối đầu với loại xe chiến đấu này bởi sự lợi hại, cơ động nhanh, đi được ở dưới nước, thời gian đầu giao chiến không phải là không phổ biến.
 
=== Học thuyết sử dụng M-113 của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa ===