Khác biệt giữa các bản “Khởi nghĩa Bắc Sơn”

không có tóm lược sửa đổi
| chỉ huy 2 = [[Tập tin:Flag of France.svg|20px]] [[Jean Decoux]]<br>[[Tập tin:Flag of Japan.svg|20px]] [[Yuichi Tsuchihashi]]<br>[[Tập tin:Flag of Japan.svg|20px]] [[Takeshi Tsukamoto]] }}
 
'''Khởi nghĩa Bắc Sơn''' - cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên bằng phương pháp bạo lực Cách mạng do [[Đảng Cộng sản Việt Nam]] lãnh đạo là một cuộc khởi nghĩa của [[người Việt]] chống lại [[đế quốc thực dân Pháp|thực dân Pháp]] và [[đế quốc Nhật Bản|phát xít Nhật]] diễn ra tại [[Bắc Sơn (huyện)|Bắc Sơn]], [[Lạng Sơn]] vào năm [[1940]] trong thời kỳ [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Đệ nhị thế chiến]]. Quân [[Nhật Bản|Nhật]] đánh vào [[Lạng Sơn]] ngày 22 tháng 9 năm [[1940]], [[quân đội Pháp]] trên đường thua chạy đã rút lui qua châu Bắc Sơn. Nhân cơ hội đó, Đảng bộ Bắc Sơn thuộc [[Đảng Cộng sản Việt Nam]] đã lãnh đạo người dân nổi dậy tước khí giới của tàn quân [[Pháp]] để tự vũ trang cho mình, giải tán chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng (27-9-1940). Nhưng sau đó [[Nhật Bản|Nhật]] thỏa hiệp với [[Pháp]] để quay trở lại đàn áp phong trào khởi nghĩa, dồn dân, giết cán bộ, đốt phá nhà cửa, cướp bóc tài sản.
 
==Diễn biến==
Dưới sự lãnh đạo của [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng]] bộ nơi đây, người dân đã đấu tranh chống lại sự đàn áp. Vì vậy các cơ sở vẫn có thể duy trì hoạt động, [[nghĩa quân]] có thể tiến đến việc lập căn cứ quân sự. Một ủy ban được thành lập, lấy tài sản tịch thu từ thực dân Pháp và cộng sự chia cho dân nghèo. Dân chúng theo khởi nghĩa rất đông. Quân Pháp và Nhật mở cuộc tấn công để đàn áp cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân rút chạy vào vùng Bắc Sơn (Lạng Sơn) và [[Võ Nhai]] ([[Thái Nguyên]]). Đến cuối năm [[1940]] thì khởi nghĩa Bắc Sơn bị coi như tan rã hoàn toàn.
===[[Chiến_dịch_Đông_Dương_(1940)|Quân Nhật tiến vào Đông Dương]]===
Năm 1940, Tướng Nhật Takuma Nishimura được giao quyền chỉ huy quân đoàn Hoa Nam, tiến hành đàm phán với đô đốc Pháp [[Jean Decoux|Decoux]], toàn quyền Đông Dương, để thỏa thuận triển khai quân Nhật trên lãnh thổ Đông Dương thuộc Pháp. Cuộc đàm phán tiến triển quá chậm chạp nên giới tướng lãnh Nhật chỉ huy quân đoàn Hoa Nam quyết định gây hấn để phá hoại quá trình đàm phán. Để tránh giao tranh, ngày 21 tháng 9 năm 1945, phía Pháp đồng ý nhượng bộ, cho phép Nhật đóng 6 ngàn quân ở Bắc kỳ, được quyền sử dụng 4 sân bay, đồng thời được quyền chuyển 25 ngàn quân qua Bắc kỳ vào Vân Nam, quyền sử dụng cảng [[Hải Phòng]] để vận chuyển một sư đoàn thuộc quân đoàn 21.
 
Bất chấp việc đàm phán đã ngã ngũ, lực lượng quân sự Nhật vẫn [[Chiến_dịch_Đông_Dương_(1940)|tiến hành khởi sự]]. 9 giờ tối ngày 22 tháng 9, sư đoàn 5 tinh nhuệ trực thuộc quân đoàn 21 Nhật tràn qua biên giới từ [[Long Châu, Sùng Tả|Long Châu]] vào Việt Nam qua ngả [[Đồng Đăng]] và giao tranh quyết liệt với quân Pháp tại đây. Giao tranh lan ra các đồn binh Pháp dọc biên giới. Xe bọc thép Nhật uy hiếp [[Lạng Sơn]], buộc quân Pháp tại đây giương cờ đầu hàng ngày 22 tháng 9. Tới lúc này các đơn vị [[lính tập|quân thuộc địa]] bắt đầu hoảng loạn rút chạy, hàng trăm lính tập rã ngũ, vứt bỏ vũ khí lại trên đường chạy về Hà Nội. Cùng thời gian, máy bay thuộc hải quân Nhật cất cánh từ tàu sân bay trên [[vịnh Bắc Bộ]] bắn phá các mục tiêu Pháp trên bộ ngày 24 tháng 9. [[Hải quân Đế quốc Nhật Bản|Hải quân Nhật]] tiến hành đổ bộ 4,500 lính bộ binh và hơn một chục xe tăng ở phía nam cảng Hải Phòng, tiến hành tước khí giới quân Pháp tại [[Đồ Sơn]]. Tới tối ngày 26, quân Nhật đã chiếm [[sân bay Gia Lâm]], trạm xe lửa từ biên giới [[Vân Nam]] vào [[Lào Cai]] và [[Phủ Lạng Thương]] trên tuyến đường sắt từ Hà Nội-Lạng Sơn. 900 quân Nhật chiếm cảng Hải Phòng, 600 quân khác đóng tại Hà Nội trước sự bất lực của Pháp.
 
===Khởi nghĩa bùng nổ===
Cuối tháng 9, khi tàn quân Pháp rút chạy qua Lạng Sơn, các dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Dao thu thập hàng trăm vũ khí bị vứt bỏ lại, tước vũ khí hoặc thuyết phục các toán tàn binh lính tập hạ vũ khí. Do có tin đồn chính quyền Pháp sụp đổ trên toàn Đông Dương, những người nổi dậy đánh phá vài đồn cảnh sát, uy hiếp các gia đình có người làm việc cho Pháp.<ref>Marr, trang 158</ref> Tiếp đó, ngày 27 tháng 9, khoảng 600 quân khởi nghĩa, vũ trang bằng súng trường, mã tấu, đao, tiến về [[Bắc Sơn (huyện)|huyện Bắc Sơn]] và chiếm đồn binh Mõ Nhai, đốt bỏ tài liệu và ấn tín. Quan huyện Bắc Sơn và tiểu đội lính dõng đóng tại đây bỏ chạy. Tuy nhiên, chỉ 3 ngày sau, một đơn vị lính tập do sỹ quan Pháp chỉ huy chiếm lại đồn Mõ Nhai và huyện lỵ Bắc Sơn.
 
Cuộc khởi nghĩa diễn ra tự phát, nên khi lãnh đạo chi bộ [[Chu Văn Tấn]] được tin, ông cấp tốc liên lạc với Xứ ủy Bắc Kỳ xin chỉ thị. Xứ ủy nhanh chóng điều [[Trần Đăng Ninh]] về Bắc Sơn cùng Chu Văn Tấn thiết lập ủy ban khởi nghĩa ngày 16 tháng 10, thành lập đội du kích gồm 20 người, và tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân. Lực lượng khởi nghĩa đánh phá nhà cửa của các thành phần bị coi là phản động, cướp thóc gạo, vải vóc và tiền bạc đem chia cho dân nghèo. Họ cũng xử tử các nhân vật bị buộc tội làm mật thám cho Pháp.<ref>Chu Văn Tấn, ''Kỷ niệm cứu quốc quân'',(Hà Nội 1977) trang 8-10</ref>
 
Ngày 28 tháng 10, khoảng một ngàn người tập trung tại làng Vũ Lăng để nghe diễn văn cách mạng và chuẩn bị đánh chiếm lại đồn Mõ Nhai. Tuy nhiên một chủ đồn điền Pháp tại địa phương nghe được tin này từ trước đã cấp báo cho Pháp. Quân Pháp từ đồn Mõ Nhai dùng đường tắt băng qua đèo, tấn công vào khu mit-ting. Những người tham gia cuộc mitting bị bất ngờ, bỏ chạy toán loạn. Quân Pháp tiếp đó cho hành quyết công khai, đốt phá nhà cửa, ruộng nương, tịch thu thóc lúa và gia súc.<ref>Marr, trang 159</ref> Quân Nhật không can thiệp, để Pháp rảnh tay tái lập trật tự, theo thỏa thuận ký ngày 22 tháng 9. Nghĩa quân rút chạy vào vùng Bắc Sơn (Lạng Sơn) và [[Võ Nhai]] ([[Thái Nguyên]]). Đến cuối năm [[1940]] thì khởi nghĩa Bắc Sơn bị coi như tan rã hoàn toàn.
 
==Chú thích==