Khác biệt giữa các bản “Khiết Đan”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (Bot: Di chuyển 33 liên kết ngôn ngữ đến Wikidata tại d:q218332 Addbot)
n
=== Lập quốc và cường thịnh ===
[[Tập tin:10 songmapxknine9.PNG|nhỏ|200px|Bản đồ vị trí giữa [[Nhà Liêu|Liêu]], [[Nhà Tống|Tống]] và [[Tây Hạ]].]]
Năm 907, một thủ lĩnh của bộ lạc Điệt Thích tên là [[GiaDa Luật A Bảo Cơ]] (Yelii Abaoji) được bầu là thủ lĩnh của liên minh 8 bộ lạc. Sau khi nắm quyền thủ lĩnh tối cao, A Bảo Cơ đã dùng vũ lực để thống nhất 8 bộ lạc Khiết Đan, đồng thời xâm chiếm đất Đột Quyết, tiêu diệt tộc Hề, thu phục các bộ lạc nhỏ xung quanh. Năm 916, A Bảo Cơ tự xưng đế kiến quốc, xây dựng một quốc gia chủ nô - nô lệ. Quốc gia Khiết Đan được thành lập, ban đầu có quốc hiệu là Khiết Đan (916-947), sau đấy đổi quốc hiệu là [[Nhà Liêu|Đại Liêu]] (947-983), rồi trở lại thành Khiết Đan (983-1066), cuối cùng lại trở lại là Liêu 1066 cho đến khi diệt vong.
 
Quốc gia Khiết Đan non trẻ nhanh chóng cường thịnh, nhiều lần xâm nhập Trung Nguyên, thậm chí từng đem quân tiêu diệt [[Hậu Đường]] (936), [[Hậu Tấn]] (947), tấn công [[Hậu Hán]] (950), [[Hậu Chu]] (951). Trong thời kỳ cường thịnh nhất, dân tộc này từng là chủ nhân của một [[đế quốc]] rộng lớn bao trùm cao nguyên Mông Cổ và phía Bắc [[Trung Quốc]], phía Bắc tới tận [[hồ Baikal]], phía Đông sát [[Sakhalin]], phía Tây vượt [[dãy núi Altai]], phía Nam tới các [[tỉnh (Trung Quốc)|tỉnh]] [[Hà Bắc (Trung Quốc)|Hà Bắc]], tỉnh[[Sơn Tây (Trung Quốc)|Sơn Tây]] ngày nay.
 
Do quản lý một quốc gia rộng lớn với nhiều sắc tộc khác nhau, người Khiết Đan đã hình thành một chính sách nổi tiếng về sau: "Một quốc gia, hai chế độ". Chính sách này được tóm tắt bằng câu "Dĩ Quốc chế trị Khiết Đan, dĩ Hán chế đãi Hán nhân" (''已國制治契丹,已漢制待漢人''). Quản lý người Khiết Đan thì dựa theo chế độ quý tộc bộ lạc Khiết Đan, quản lý người Hán thì dựa theo thể chế nhà Đường. Chính sách này đã đem lại hiệu quả to lớn, đặc biệt vào đầu thế kỷ 11, quốc gia Khiết Đan đã chuyển đổi hoàn toàn từ chế độ nô lệ sang chế độ phong kiến. Quân đội Khiết Đan hùng mạnh, liên tục uy hiếp [[Nhà Tống|Bắc Tống]] và [[Tây Hạ]], buộc 2hai quốc gia này phải thần phục.
 
=== Suy tàn và diệt vong ===
Đầu thế kỷ thứ 12, nước Liêu bước vào giai đoạn suy tàn. Năm 1114, một thủ lĩnh của tộc người Nữ Chân là [[Kim Thái Tổ|Hoàn Nhan A Cốt Đả (Wanyan Aguda)]], liên kết với [[Nhà Tống|Bắc Tống]], mang đại quân cướp đất Đại Liêu, một năm sau dựng nên nhà [[Nhà Kim|Kim]]. Nhà Kim đã hạ lệnh giết sạch những người Khiết Đan phản kháng, trong đó có một cuộc chém giết kéo dài hơn 1 tháng. Đến năm 1125 thì hầu hết lãnh thổ Khiết Đan đã bị người Nữ Chân chinh phục. Một bộ phận dân tộc Khiết Đan ở lại lãnh thổ của họ, hòa huyết với người [[Nữ Chân]]. Một bộ phận người Khiết Đan khác theo hoàng thân Gia[[Da Luật Đại Thạch]] di tản về phía Tây, dựng nên nước Ha Lạt Khiết Đan tức triều [[Tây Liêu]] ở giữa Trung Á và [[Tân Cương]]. Nước này cũng có một thời cường thịnh nhưng cuối cùng bị đại quân [[đế quốc Mông Cổ]] của [[Thành Cát Tư Hãn]] tiêu diệt. Những tàn dân Khiết Đan lại chạy về miền Nam của Iran ngày nay lập nên vương triều Khởi Nhi Man (Qierman). Không lâu sau, vương triều này cũng tàn lụi. Dưới sự cai trị của Mông Cổ, các cuộc chinh chiến liên miên khiến cho tộc người thiện chiến Khiết Đan phần lớn bỏ thây nơi chiến địa, số còn lại phân tán khắp nơi và nhanh chóng bị dân cư địa phương đồng hóa.
 
== Hậu duệ của dân tộc Khiết Đan ==
Khiết Đan từng là một dân tộc lớn nhưng lại không có tên trong số 56 dân tộc Trung Quốc ngày nay. Tuy nhiên bằng phương pháp so sánh phương thức sản xuất, sinh hoạt, tập tục, tôn giáo, ngôn ngữ, lịch sử và dùng kỹ thuật ADN các học giả đã chứng minh tộc [[Người Daur|người Đạt Oát Nhĩ ]] (Dawr) cư trú tại vùng tiếp giáp giữa Đại Hưng An, Nộn Giang và thảo nguyên Hô Luân Bối Nhĩ (Hulunbeier) chính là hậu duệ của dân tộc Khiết Đan.
 
== Văn hóa và chữ viết ==