Khác biệt giữa các bản “USS Alaska (CB-1)”

Không thay đổi kích thước ,  7 năm trước
n
clean up using AWB
n (Robot: Sửa đổi hướng)
n (clean up using AWB)
|}
 
'''USS ''Alaska'' (CB–1)''', chiếc tàu thứ ba của [[Hải quân Hoa Kỳ]] được đặt tên theo [[vùng quốc hải Hoa Kỳ|vùng quốc hải]] lúc đó và [[Alaska|tiểu bang hiện nay]], là chiếc dẫn đầu của [[Alaska (lớp tàu tuần dương)|lớp ''Alaska'']] vốn dự tính bao gồm sáu tàu tuần dương lớn.<ref name = "Fitzsimons 1 58">Fitzsimons, Volume 1, 58.</ref><ref group=A>Nhiều sử gia hiện đại tin rằng những chiếc ''Alaska'' cần được xếp như những [[tàu chiến-tuần dương]]. Xem [[Alaska (lớp tàu tuần dương)#"Tàu tuần dương lớn" hay "tàu chiến-tuần dương"?]].</ref> Không giống thông lệ đang có trong việc đặt tên thiết giáp hạm hay tàu tuần dương của Mỹ,<ref group=A>Với một số rất ít ngoại lệ, các thiết giáp hạm Mỹ được đặt tên theo các tiểu bang, ví dụ như ''[[USS Nevada (BB-36)|''Nevada'']]'' hoặc ''[[USS New Jersey (BB-62)|''New Jersey'']]'', trong khi tàu tuần dương được đặt tên theo thành phố, ví dụ như ''[[USS Juneau (CL-52)|''Juneau'']]'' hoặc ''[[USS Quincy (CA-71)|''Quincy]]'']].</ref> tất cả những chiếc trong lớp, kể cả ''Alaska'', đều được đặt tên theo "lãnh thổ hoặc [[vùng quốc hải Hoa Kỳ|vùng quốc hải]]" của Hoa Kỳ nhằm nhấn mạnh vai trò trung gian của chúng giữa [[thiết giáp hạm]] và [[tàu tuần dương]] hạng nặng hay hạng nhẹ thông thường.<ref>Greer, 84.</ref><ref group=A>[[Alaska]] và [[Hawaii]] là những "vùng quốc hải" của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ vào lúc đó; chúng gia nhập Liên bang như những tiểu bang thứ 49 và 50 vào năm 1959.</ref>
 
Khi lớp tàu của nó được đặt hàng vào ngày [[9 tháng 9]] năm [[1940]], nó đưa đến sự ngạc nhiên cho nhiều người vì Hải quân Mỹ chưa bao giờ hoàn tất một [[tàu chiến-tuần dương]] trong suốt lịch sử của nó, ngay cả vào giai đoạn cực thịnh của kiểu tàu này trong những năm [[1906]]- [[1916]].<ref name= Miller200>Miller, 200.</ref><ref group=A>Hai chiếc tàu sân bay nổi tiếng thuộc [[Lexington (lớp tàu sân bay)|lớp ''Lexington'']] trong Thế Chiến II [[USS Lexington (CV-2)|''Lexington'' (CV-2)]] và [[USS Saratoga (CV-3)|''Saratoga'' (CV-3)]] nguyên là một phần của một [[Lexington (lớp tàu chiến-tuần dương)|lớp tàu chiến-tuần dương]] vào năm 1916 bao gồm sáu chiếc. Tuân thủ [[Hiệp ước Hải quân Washington]], chúng được cải biến thành [[tàu sân bay]], trong khi bốn chiếc còn lại [[USS Constellation (CC-2)|''Constellation'' (CC-2)]], [[USS Ranger (CC-4)|''Ranger'' (CC-4)]], [[USS Constitution (CC-5)|''Constitution'' (CC-5)]] và [[USS United States (CC-6)|''United States'' (CC-6)]] đều bị hủy bỏ.</ref> Tuy nhiên, việc chế tạo được xúc tiến, và ba chiếc đầu tiên của lớp là ''Alaska'', ''[[USS Guam (CB-2)|''Guam'']]''''[[USS Hawaii (CB-3)|''Hawaii'']]'' lần lượt được đặt lườn tại hãng [[New York Shipbuilding Corporation]] thuộc [[Camden]], [[New Jersey]] vào các ngày [[17 tháng 12]] năm [[1941]], [[2 tháng 2]] năm [[1942]] và [[20 tháng 12]] năm [[1943]].
 
''Alaska'' được hạ thủy vào ngày [[15 tháng 8]] năm [[1943]], và được đưa ra hoạt động 11 tháng sau đó vào ngày [[17 tháng 6]] năm [[1944]]. Sau nhiều lần chạy thử và một vài thay đổi, nó đi sang khu vực [[chiến tranh Thái Bình Dương|mặt trận Thái Bình Dương]] vào [[tháng mười hai|tháng 12]] năm đó, đến San Diego ngày [[12 tháng 12]]. Tiếp tục lên đường hướng sang Tây Thái Bình Dương, nó gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 58 tại [[Ulithi]] vào ngày [[10 tháng 2]] năm [[1945]], và toàn bộ lực lượng này tấn công các đảo chính quốc Nhật Bản. ''Alaska'' thực hiện việc hộ tống cho lực lượng này, đặc biệt là các tàu sân bay, trong suốt tháng tiếp theo; nhưng vào ngày [[19 tháng 3]], sau khi tàu sân bay ''[[USS Franklin (CV-13)|''Franklin'']]'' bị đánh trúng hai quả bom và bị buộc phải rút lui, một lực lượng hộ tống được hình thành bao gồm cả ''Alaska'' lẫn con tàu chị em ''Guam'' được hình thành để dẫn dắt con tàu sân bay hư hỏng quay trở lại Guam. ''Alaska'' tách khỏi lực lượng này vào ngày [[22 tháng 3]], tiếp tục nhiệm vụ bảo vệ các tàu sân bay khi chúng đang tung ra các cuộc không kích nhắm vào Okinawa. Sau khi nả pháo xuống một hòn đảo nhỏ, nó lại lên đường hướng đến Ulithi, nơi nó gia nhập [[Đệ tam Hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Tam hạm đội]].
 
Trong hai tuần tiếp theo, nó bảo vệ các tàu sân bay của Đệ Tam hạm đội, sau đó ''Alaska'' cùng với tàu chị em ''Guam'' hướng đến Đông Hải tấn công các tàu bè Nhật Bản, và tiếp tục công việc này cho đến khi chiến tranh kết thúc. Sau khi thực hiện việc biểu dương lực lượng tại một số cảng, nó hỗ trợ cho việc đổ bộ lên miền Bắc Trung Quốc. Sau đó nó lên đường quay về [[Xưởng hải quân Boston]], đến nơi vào ngày [[18 tháng 12]]. Được chuẩn bị để cho ngừng hoạt động, nó được bố trí một chỗ neo đậu vĩnh viễn tại [[Bayonne]], [[New Jersey]]; và vào ngày [[13 tháng 8]] năm [[1946]] nó được đưa vào lực lượng dự bị. ''Alaska'' chính thức ngừng hoạt động vào ngày [[17 tháng 2]] năm [[1947]].
==Lịch sử hoạt động==
[[Tập tin:USS Alaska (CB-1) launching.jpg|nhỏ|trái|USS ''Alaska'' được hạ thủy vào ngày [[15 tháng 8]] năm [[1943]].]]
Sau khi được trang bị hoàn tất tại Xưởng hải quân Philadelphia, ''Alaska'' di chuyển dọc theo [[sông Delaware]] vào ngày [[6 tháng 8]] năm [[1944]] hướng đến [[Hampton Roads]], được hộ tống bởi các tàu khu trục ''[[USS Simpson (DD-221)|''Simpson'']]''''[[USS Broome (DD-210)|''Broome]]'']]. Sau đó nó tiến hành một chuyến chạy thử máy "tích cực", bắt đầu từ [[vịnh Chesapeake]] di chuyển đến [[vịnh Paria]] ngoài khơi [[Trinidad]] ở [[Tây Ấn thuộc Anh]], lần này được hộ tống bởi các tàu khu trục ''[[USS Bainbridge (DD-246)|''Bainbridge'']]''''[[USS Decatur (DD-341)|''Decatur'']]''. Sau tất cả các thử nghiệm trên, nó hướng đến Xưởng hải quân Philadelphia ngang qua [[Annapolis]], [[Maryland]] và Norfolk để thực hiện các hiệu chỉnh và thay đổi cho [[hệ thống kiểm soát hỏa lực]], trang bị bốn bộ hướng dẫn hỏa lực Mk. 57 cho dàn pháo 127&nbsp;mm (5 inch).<ref name="Alaska DANFS"/>
 
''Alaska'' khởi hành từ Philadelphia vào ngày [[12 tháng 11]] năm [[1944]] hướng đến khu vực [[Vùng Caribe|Caribbe]] cùng với tàu khu trục ''[[USS Thomas E. Fraser (DM-24)|''Thomas E. Fraser'']]'', và sau hai tuần chạy thử máy để tiêu chuẩn hóa ngoài khơi [[Căn cứ hải quân vịnh Guantanamo|vịnh Guantanamo]] tại [[Cuba]], nó lên đường hướng sang [[Thái Bình Dương]] vào ngày [[2 tháng 12]]. Nó hoàn tất chuyến đi vượt [[kênh đào Panama]] ngày [[4 tháng 12]] và đến San Diego ngày [[12 tháng 12]]. Từ đó, chiếc "tàu tuần dương lớn" thực hành bắn pháo bờ biển và tác xạ phòng không tại khu vực ngoài khơi [[San Diego]].<ref name="Alaska DANFS"/>
 
===Tây Thái Bình Dương===
Ngày [[8 tháng 1]] năm [[1945]], ''Alaska'' khởi hành đi [[Hawaii]], đến [[Trân Châu Cảng]] vào ngày [[13 tháng 1]], nơi mà vào ngày [[27 tháng 1]] quyền chỉ huy con tàu được Đại tá Kenneth H. Noble thay thế cho Thuyền trưởng Fischler, vốn được thăng lên [[Chuẩn Đô đốc]]. Trong những ngày tiếp theo sau, ''Alaska'' tiến hành thêm các cuộc huấn luyện trước khi lên đường như một đơn vị của Đội Đặc nhiệm 12.2 hướng sang khu vực Tây Thái Bình Dương vào ngày [[29 tháng 1]]. Nó đến [[Ulithi]], nơi thả neo của hạm đội thuộc [[quần đảo Caroline]], vào ngày [[6 tháng 2]], rồi sau đó gia nhập Đội Đặc nhiệm 58.5, một đơn vị thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 58 “nổi tiếng”, tức lực lượng các tàu sân bay nhanh.<ref name="Alaska DANFS"/>
[[Tập tin:USS Alaska (CB-1)-3.jpg|nhỏ|''Alaska'' trong chuyến đi chạy thử máy vào năm 1944]]
''Alaska'' lên đường hướng đến các đảo chính quốc Nhật Bản trong thành phần của Đội Đặc nhiệm TG 58.5 vào ngày [[10 tháng 2]] năm [[1945]]. Nó được giao nhiệm vụ bảo vệ các tàu sân bay ''Saratoga'' và ''[[USS Enterprise (CV-6)|''Enterprise'']]'' khi chúng thực hiện các cuộc không kích ban đêm vào [[Tōkyō|Tokyo]] và các sân bay chung quanh nó. Lực lượng Đặc nhiệm 58, được che giấu bởi thời tiết xấu, tiếp cận các đảo chính quốc Nhật từ phía Đông quần đảo [[Mariana]]. Sử dụng tình báo vô tuyến cùng với các tàu ngầm được bố trí, các máy bay tuần tra tầm xa của Không đoàn Hạm đội 1, và những chiếc máy bay [[Boeing]] [[Boeing B-29 Superfortress|B-29 Superfortress]] của [[Không lực Lục quân Hoa Kỳ]] hoạt động như những đơn vị trinh sát tiền trạm, lực lượng đặc nhiệm tiếp cận được mục tiêu mà không bị phát hiện; và nhờ kỹ năng bay tầm thấp đã ngăn trở sự phản công của quân Nhật. Được phân về Đội Đặc nhiệm 58.4 không lâu sau đó, ''Alaska'' hỗ trợ các hoạt động tại Iwo Jima, và cũng như trước đây, không máy bay đối phương nào bén mảng đến gần đội hình các tàu sân bay mà chiếc tàu tuần dương lớn tháp tùng. Nó bảo vệ các tàu sân bay trong 19 ngày trước khi rút lui về Ulithi để bổ sung tiếp liệu và thực hiện các sửa chữa nhỏ.<ref name="Alaska DANFS"/>
 
Với quyết tâm chiếm đóng [[Okinawa]] vào đầu [[tháng tư|tháng 4]] năm [[1945]], các nhà chiến lược dự đoán là Nhật sẽ kháng cự quyết liệt với mọi sức mạnh không quân và hải quân còn có được. Để phá hủy càng nhiều máy bay càng tốt, và do đó giảm thiểu khả năng hải quân Mỹ bị máy bay Nhật tấn công - lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh được lệnh tấn công các sân bay tại [[Kyushu|Kyūshū]], [[Shikoku]] và phía Đông [[Đảo Honshu|Honshū]]. Vẫn còn trong thành phần của Đội Đặc nhiệm 58.4 vốn được hình thành chung quanh các tàu sân bay ''[[USS Yorktown (CV-10)|''Yorktown]]'']], ''[[USS Intrepid (CV-11)|''Intrepid]]'']], ''[[USS Independence (CVL-22)|''Independence]]'']]''[[USS Langley (CVL-27)|''Langley]]'']], ''Alaska'' một lần nữa đảm trách nhiệm vụ bảo vệ các tàu sân bay. Vẫn như trước đây, vai trò chính của nó là phòng thủ chống lại mọi cuộc tấn công từ trên không hay trên mặt biển.<ref name="Alaska DANFS"/>
 
Theo kế hoạch tác chiến được vạch ra, Lực lượng Đặc nhiệm 58 khởi hành từ Ulithi vào ngày [[14 tháng 3]] hướng lên phía Tây Bắc từ quần đảo Caroline. Được tiếp nhiên liệu trên biển trong ngày [[16 tháng 3]], lực lượng này đi đến một điểm ở về phía Đông Nam Kyūshū vào sáng sớm ngày [[18 tháng 3]]. Trong ngày hôm đó, máy bay của Đội Đặc nhiệm 58.4 đã càn quét qua các sân bay Nhật Bản tại [[Usa, Ōita|Usa]], [[Ōita, Ōita|Ōita]] và [[Saeki]], hợp cùng lực lượng của các đội đặc nhiệm 58.1, 58.2 và 58.3 trong việc tiêu diệt 107 máy bay đối phương trên mặt đất và bắn rơi 77 trong tổng số 142 máy bay tham gia không chiến bên trên khu vực mục tiêu.<ref name="Alaska DANFS"/>
 
===Bảo vệ ''Franklin''===
Nhật Bản dốc toàn lực ra tấn công vào ngày [[19 tháng 3]], và chúng bắt gặp Đội Đặc nhiệm 58.2 ở cách 32&nbsp;km (20 dặm) về phía Bắc so với các đội khác của Lực lượng đặc nhiệm 58. Vào khoảng 07 giờ 08 phút, ''[[USS Franklin (CV-13)|''Franklin'']]'' bị đánh trúng hai quả bom; và ''[[USS Wasp (CV-18)|''Wasp]]'']] cũng là nạn nhân của những quả bom Nhật. Bên trên ''Alaska'', mọi người đang chứng kiến diễn biến của trận đánh đều ghi nhận được ánh chớp, rồi nối tiếp bởi những cuộn khói dày đặc từ từ bốc lên, chứng tỏ chiếc tàu sân bay đã bị đánh trúng. Ít lâu sau, liên lạc vô tuyến xác nhận việc ''Franklin'' là nạn nhân của đợt tấn công của Nhật.<ref name="Alaska DANFS"/>
 
Đơn vị Đặc nhiệm 58.2.9, một lực lượng giải cứu, được nhanh chóng thành lập để hộ tống chiếc ''Franklin'' bị hư hại. Bao gồm ''Alaska'', chiếc ''[[USS Guam (CB-2)|''Guam]]'']] chị em với nó, [[tàu tuần dương]] hạng nặng ''[[USS Pittsburgh (CA-72)|''Pittsburgh'']]'', tàu tuần dương hạng nhẹ ''[[USS Santa Fe (CL-60)|''Santa Fe]]'']] và ba đội tàu khu trục, Đơn vị Đặc nhiệm 58.2.9 được lệnh tiến đến [[Guam]] với tốc độ nhanh nhất có thể.<ref name="Alaska DANFS"/>
 
Không có lực lượng Nhật nào được phát hiện trên đường đi cho đến xế trưa, khi một số máy bay xuất hiện ở chân trời. Cho dù đa số là những chiếc thủy phi cơ PB4Y không phát ra tín hiệu [[phân biệt bạn-thù]], một chiếc "Judy" đã ẩn náu giữa chúng. Một dàn "hỏa lực chào" được dựng nên để phòng thủ đối với chiếc "Judy" nhưng nó thoát đi mà không bị thiệt hại, còn quả bom nó phóng ra trượt khỏi ''Franklin''. Loạt đạn pháo 127&nbsp;mm (5 inch) cuối cùng của ''Alaska'' trong trận này đã gây bỏng nhẹ cho một khẩu đội 40&nbsp;mm kế cận; là những thương vong duy nhất mà chiếc tàu tuần dương lớn phải chịu trong suốt quảng đời phục vụ của nó.<ref name="Alaska DANFS"/>
 
Sáng hôm sau, ''Alaska'' đảm nhiệm vai trò chỉ đạo tuần tra chiến đấu trên không, và kiểm soát ba tốp máy bay tiêm kích xuất phát từ tàu sân bay ''[[USS Hancock (CV-19)|''Hancock'']]''. Trong khi các tốp này còn đang ở vị trí trực chiến chờ đến lúc được thay phiên, [[ra đa|radar]] của ''Alaska'' bắt được tín hiệu một chiếc máy bay đơn độc ở cách 56&nbsp;km (35 dặm) lúc 11 giờ 43 phút. Đến 11 giờ 49 phút, các máy bay tiêm kích bắn rơi một chiếc [[Kawasaki Ki-45]] "Nick" ở khoảng cách 31&nbsp;km (19 dặm). Đến ngày [[22 tháng 3]], phần việc của ''Alaska'' trong cuộc hộ tống chiếc ''Franklin'' bị hư hại đã hoàn tất, và nó lại gia nhập Đội Đặc nhiệm 58.4, được tiếp nhiên liệu cùng ngày hôm đó từ tàu chở dầu ''[[USS Chicopee (AO-34)|''Chicopee'']]''.<ref name="Alaska DANFS"/>
 
=== Okinawa ===
Trong vài ngày tiếp theo sau, các cuộc không kích xuống Okinawa vẫn tiếp tục được tiến hành, chuẩn bị cho cuộc đổ bộ đã được ấn định trước vào ngày Chủ nhật [[Phục Sinh]], [[1 tháng 4]] năm [[1945]]. ''Alaska'' tiếp tục hỗ trợ các tàu sân bay tung ra các cuộc không kích cho đến khi được tách ra vào ngày [[27 tháng 3]] để thực hiện nhiệm vụ bắn pháo xuống [[Minami Daito Shimo]], một hòn đảo tí hon ở cách 257&nbsp;km (160 dặm) về phía Đông Okinawa. Đơn vị Đặc nhiệm 58.4.9 của nó còn bao gồm ''Guam'', các tàu tuần dương hạng nhẹ ''[[USS San Diego (CL-53)|''San Diego'']]''''[[USS Flint (CL-97)|''Flint'']]'' cùng Hải đội Khu trục 47. Nhận được lệnh tiến hành bắn phá trên đường đi đến khu vực tiếp nhiên liệu, ''Alaska'' và ''Guam'' cùng các tàu hộ tống di chuyển về phía Tây hòn đảo theo hướng Bắc-Nam; và từ 22 giờ 45 phút ngày [[27 tháng 3]] đến 00 giờ 30 phút ngày [[28 tháng 3]], dàn pháo chính của ''Alaska'' đã dội 45 quả đạn pháo công phá lên bờ, trong khi các khẩu đội 127&nbsp;mm (5 inch) nả thêm 352 quả đạn khác. Không có bất kỳ sự kháng cự nào từ trên bờ, và quan sát viên trên ''Alaska'' ghi nhận "các đám cháy tương ứng" trên đảo.
 
Tái gia nhập Đội Đặc nhiệm 58.4 tại điểm hẹn tiếp nhiên liệu, ''Alaska'' cho chuyển những người bị thương từ chiếc ''Franklin'' sang tàu chở dầu ''[[USS Tomahawk (AO-88)|''Tomahawk'']]'' trong khi đang được tiếp nhiên liệu từ nó. Sau đó nó tiếp tục nhiệm vụ hộ tống các tàu sân bay nhanh khi chúng thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho việc tập trung lực lượng và đổ bộ lên Okinawa, sẵn sàng đánh trả các cuộc không kích của đối phương. Cuộc đổ bộ được tiến hành như dự tính vào ngày [[1 tháng 4]], và các hoạt động của nó trong những ngày tiếp theo là nhằm hỗ trợ cho lực lượng đổ bộ. Ngày [[7 tháng 4]], một lực lượng tàu nổi Nhật Bản đã di chuyển qua biển Đông Trung Quốc hướng về phía Okinawa để ngăn chặn cuộc đổ bộ; chúng bị đánh bại bởi một cuộc không kích lớn lao từ các tàu sân bay bay nhanh thuộc lực lượng đặc nhiệm dưới quyền [[Phó Đô đốc]] [[Marc Mitscher]], vốn đã đánh chìm chiếc thiết giáp hạm khổng lồ ''[[Yamato (thiết giáp hạm Nhật)|''Yamato'']]'', một tàu tuần dương và bốn tàu khu trục.
 
Hoạt động ngoài khơi Okinawa và Kyūshū, ''Alaska'' sử dụng hỏa lực hùng hậu của mình bảo vệ các tàu sân bay nhanh trong khi chúng hàng ngày tung ra các đợt máy bay [[Grumman F6F Hellcat|F6F Hellcat]] và [[Vought F4U Corsair|F4U Corsair]] nhắm vào các sân bay đối phương, các tàu bè và căn cứ trên bờ. Trong đêm [[11 tháng 4]], chiếc tàu tuần dương lớn đã trợ giúp vào việc bắn rơi một máy bay Nhật Bản; bản thân nó cũng bắn rơi một chiếc khác bởi chính mình, được cho có thể là một kiểu tên lửa cảm tử có người lái "[[Ohka]]" trong đêm [[11 tháng 4|11]]-[[12 tháng 4]].
 
=== Các hoạt động cuối cùng trong chiến tranh ===
''Alaska'' thả neo tại Ulithi vào ngày [[14 tháng 5]], kết thúc một đợt hoạt động căng thẳng kéo dài gần hai tháng. Mười ngày sau đó, sau khi được nghỉ ngơi và tiếp liệu, chiếc tàu tuần dương trở thành một bộ phận của [[Đệ tam Hạm đội Hoa Kỳ|Đệ Tam hạm đội]], thuộc Đội Đặc nhiệm 38.4 cùng với những thành viên mới gia nhập: thiết giáp hạm ''[[USS Iowa (BB-61)|''Iowa'']]'' và tàu sân bay ''[[USS Ticonderoga (CV-14)|''Ticonderoga'']]''. Trong hai tuần lễ tiếp theo, một lần nữa ''Alaska'' lại hộ tống một bộ phận của lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh, tiến hành cuộc bắn pháo bờ biển lần thứ hai của nó, khi vào ngày [[9 tháng 6]], nó cùng với ''Guam'' dội pháo xuống đảo [[Okino Daito Shima]] còn do Nhật Bản chiếm giữ, về phía Nam [[Minami Daito Shimo]], vốn đã được hai chiếc tàu sân bay lớn ghé thăm vào cuối [[tháng ba|tháng 3]], và được ghi nhận có khác cơ sở radar của đối phương được bố trí tại đây.
 
Sau đó, đội đặc nhiệm di chuyển về phía Tây Nam hướng đến [[vịnh San Pedro (Philippines)|vịnh San Pedro]] ở [[Leyte (đảo)|Leyte]], đến nơi vào trưa ngày [[13 tháng 6]] năm [[1945]]. Nó trải qua một tháng trong [[vịnh Leyte]] sau đó; một giai đoạn "nghỉ ngơi, tiếp liệu và bảo trì" trước khi ''Alaska'' lại lên đường vào ngày [[13 tháng 7]], lần này là trong thành phần của Lực lượng Đặc nhiệm 95 vừa mới được thành lập. Đi đến [[vịnh Buckner]] tại Okinawa vào ngày [[16 tháng 7]], Lực lượng Đặc nhiệm 95 được tiếp nhiên liệu tại đây và lên đường vào ngày hôm sau, hướng đến bờ biển [[Trung Quốc]] rồi sau đó đột nhập vào [[biển Hoa Đông|biển Đông Trung Quốc]], khu vực từng là nơi săn mồi của máy bay và tàu ngầm Mỹ, nhưng chưa từng có mặt một lực lượng tàu nổi Đồng Minh nào kể từ sau trận Trân Châu Cảng.
Mặc dù những người vạch kế hoạch cho cuộc càn quét dự đoán có những sự kháng cự, chúng đã không xảy ra. ''Alaska'', ''Guam'' và các tàu hộ tống khống chế cả khu vực, chỉ bắt gặp các thuyền đánh cá Trung Quốc. Máy bay đối phương nhiều lần được tung ra chống lại lực lượng đặc nhiệm đều là mục tiêu của lực lượng tuần tra chiến đấu trên không. Hoạt động từ [[vịnh Buckner]], ''Alaska'' tham gia ba đợt càn quét tại vùng biển này, và đã chứng kiến hiệu quả của việc phong tỏa cấm vận Nhật Bản: không hề thấy bất cứ tàu bè Nhật Bản nào trong suốt chiến dịch. Nhận xét của chỉ huy trưởng chiếc ''Guam'', Đại tá Hải quân [[Leland P. Lovette]]: "Chúng tôi chuẩn bị đối phó với một tổ ong vò vẽ, và kết thúc ở một cánh đồng toàn bướm; nhưng chúng tôi đã chứng tỏ được chính mình, và biển Đông Trung Quốc thuộc về chúng tôi, có thể làm bất cứ điều gì theo ý mình."
 
Vịnh Buckner tỏ ra có nhiều thách thức hơn so với các đợt càn quét. Ngay cả những ngày sau cùng của cuộc chiến tranh vẫn còn có những yếu tố nguy hiểm: vào ngày [[12 tháng 8]] một máy bay ném bom-ngư lôi Nhật Bản đã đánh trúng thiết giáp hạm ''[[USS Pennsylvania (BB-38)|''Pennsylvania'']]'', cạnh nơi thả neo của ''Alaska''. Trong những ngày tiếp theo, những chuyến ra đi vào ban đêm được thực hiện để tránh những kẻ tự sát cuối cùng, cho đến khi chiến tranh chấm dứt vào giữa [[tháng tám|tháng 8]].
 
=== Hoạt động sau chiến tranh ===
5.681.853

lần sửa đổi