Khác biệt giữa các bản “Văn miếu (Huế)”

không có tóm lược sửa đổi
Suốt thời Gia Long trị vì, triều đình nhà Nguyễn chỉ mở các khoa [[thi hương]] nên không có tấm bia tiến sĩ nào ccược dựng ở Văn Miếu. Đến thời [[Minh Mạng]] mới mở các khoa [[thi hội]], nên bia tiến sĩ cũng bắt đầu được dựng. Các "tiến sĩ đề danh bí" được lần lượt dựng lên ở sân Văn Miếu từ năm 1831 đến năm 1919, năm có khoa thi Hội cuối cùng dưới thời vua [[Khải Ðịnh]].
 
Văn Miếu Huế đã được tu sửa, làm mới một số đồ thờ và xây dựng thêm một số công trình phụ vào các năm 1818 (thời Gia Long); 1820,1822,1830,1840 (thời Minh Mạng); 1895,1903 (thời [[Thành Thái]]). Đến năm 1947, khi quân đội [[Pháp]] tái chiếm [[Huế]] và đồn trú tại đây đã gây thiệt hại cho di tích này. Lúc đó, các bài vị thờ ở Văn Thánh được đưa về bào quản tại [[chùa Thiên Mụ]] <ref>Kiến trúc cố đô Huế, Phan Thuận An, NXB Đà Nẵng 2007. Trang143-151</ref>.
 
==Kiến trúc==
 
Văn Miếu Huế được xây dựng ngoài việc thờ Khổng Tử còn thờ Tứ Phối: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử, cùng Thập Nhị Triết. Đông Vu và Tây Vu gồm 14 án, thờ các Tiên Hiền và Tiên Nho, những người có công trong việc phát triển [[đạo Nho]]. Đối với việc thờ phụng, triều Nguyễn cho lập bài vị bằng gỗ gọi là linh vị, mộc chủ, thần chủ để thờ và buộc tất cả các địa phương nơi nào thờ Khổng Tử bằng hình tượng đều phải thay thế bằng bài vị mộc chủ, còn các tượng thì phải lựa chọn nơi sạch sẽ chôn đi vì triều Nguyễn cho rằng thờ bằng hình tượng là thiếu trang trọng, thiếu lễ độ đối với người đã khuất, cho nên ngay cả bàn thờ các vua Nguyễn cũng không hề thờ bằng hình tượng.
==Chú thích==
 
{{reflist}}
==Tham khảo==
* Kiến trúc cố đô Huế, Phan Thuận An, NXB Đà Nẵng 2007.
183

lần sửa đổi