Khác biệt giữa các bản “USS Wyoming (BB-32)”

n (Robot: Sửa đổi hướng)
 
Sau khi hoàn tất việc giải giáp, ''Wyoming'' viếng thăm Annapolis, và từ ngày [[29 tháng 5]] đến ngày [[5 tháng 6]] năm [[1931]] đã đón các học viên sĩ quan của [[Học viện Hải quân Hoa Kỳ]] trong một chuyến đi sang vùng biển Châu Âu. Lên đường vào ngày [[5 tháng 6]], con tàu đang ở giữa Đại Tây Dương khi nó tiến đến trợ giúp chiếc [[tàu ngầm]] [[USS O-12 (SS-73)|''O-12'']] dưới quyền chỉ huy của nhà thám hiểm nổi tiếng người Anh Sir [[Hubert Wilkins]]. ''Wyoming'' đã kéo chiếc tàu ngầm bị hỏng đến [[Queenstown, Bắc Ireland]]. Trong chuyến đi, con tàu đã ghé qua [[Copenhagen, Đan Mạch]]; [[Greenock, Scotland]]; [[Cadiz, Tây Ban Nha]] và [[Gibraltar]] trước khi quay trở về [[Hampton Roads]] vào ngày [[13 tháng 8]]. Trong thời gian của chuyến đi, ký hiệu lườn của nó được thay đổi từ '''BB-32''' thành '''AG-17''' vào ngày [[1 tháng 7]] năm [[1931]].
 
Trong bốn năm tiếp theo, ''Wyoming'' tiếp tục các chuyến đi thực tập mùa Hè cho các học viên sĩ quan của Học viện Hải quân và các chuyến đi huấn luyện của Hải quân Dự bị gồm nhiều đơn vị thuộc các trường đại học khác nhau. Nhiệm vụ này đưa nó đến các vùng biển Caribe và vịnh Mexico, cũng như đến các cảng Bắc Âu và Địa Trung Hải. Tuy nhiên, những nhiệm vụ khác đang chờ đợi chiếc thiết giáp hạm. Vào ngày [[18 tháng 1]] năm [[1935]], nó nhận lên tàu Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 4 Thủy quân Lục chiến tại Norfork cho các cuộc thực hành đổ bộ tấn công Đông-Xuân tại [[Puerto Rico]] và vùng kênh đảo Panama. Hầu như trong mỗi năm tiếp theo, ''Wyoming'' đều tham gia các cuộc huấn luyện đổ bộ trong quá trình Thủy quân Lục chiến và Hải quân phát triển những chiến thuật để sử dụng trong những cuộc xung đột trong tương lai.
 
Khởi hành từ Norfolk vào ngày [[5 tháng 1]] năm [[1937]], ''Wyoming'' băng qua kênh đào Panama; hướng đến San Diego không lâu sau đó; và trải qua những tuần tiếp theo tham gia các cuộc thực tập đổ bộ tấn công và huấn luyện tác xạ tại [[đảo San Clemente]], ngoài khơi bờ biển California. Vào ngày [[18 tháng 2]], trong giai đoạn cao điểm của cuộc thực tập phối hợp nhiều mặt không-hải-lục, một quả đạn pháo đã phát nổ sớm khi vừa được nạp vào nòng một khẩu pháo 5 inch bên mạn tàu. Sáu thủy thủ thiệt mạng, và 11 người khác bị thương. Ngay sau vụ nổ, ''Wyoming'' vội vã đi đến San Pedro, nơi nó chuyển những người bị thương sau tàu bệnh viện [[USS Relief (AH-1)|''Relief'']].
 
Hoàn tất các cuộc thực tập và tập trận ngoài khơi bờ biển California vào ngày [[3 tháng 3]], ''Wyoming'' rời cảng Los Angeles ngày hôm đó hướng trở lại vùng bờ Đông. Quay về đến Norfolk vào ngày [[23 tháng 3]], con tàu phục vụ như là soái hạm tạm thời cho Chuẩn đô đốc Wilson Brown, Tư lệnh Hải đội Huấn luyện, từ ngày [[15 tháng 4]] đến ngày [[3 tháng 6]] trong quá trình chuẩn bị cho chuyến đi thực hành sắp tới của Học viện Hải quân. Khởi hành từ Hampton Roads vào ngày [[4 tháng 6]], ''Wyoming'' đi đến [[Kiel, Đức]] vào ngày [[21 tháng 6]] năm [[1937]], nơi nó được các sĩ quan của chiếc tàu tuần dương [[Admiral Graf Spee (thiết giáp hạm Đức)|''Admiral Graf Spee'']] thị sát. Học viên sĩ quan trên tàu đã có chuyến viếng thăm [[Berlin]] trước khi ''Wyoming'' lên đường quay trở về nhà vào ngày [[29 tháng 6]], ghé qua [[Torbay, Anh]] và [[Funchal, Madeira]] trước khi về đến Norfolk vào ngày [[3 tháng 8]].
 
Sau các đợt thực tập tại chỗ, ''Wyoming'' cho các học viên sĩ quan rời tàu tại Annapolis vào ngày [[26 tháng 8]]. Trong những tháng tiếp theo, ''Wyoming'' tiếp nối vai trò tàu huấn luyện, thoạt tiên là với các đơn vị Hải quân Dự bị rồi đến các đơn vị Hải quân Thương thuyền Dự bị, trải rộng từ Boston cho đến quần đảo Virgin, và từ New York đến Cuba tương ứng, trước khi trải qua đợt đại tu tại Xưởng hải quân Norfolk từ ngày [[16 tháng 10]] năm [[1937]] đến ngày [[14 tháng 1]] năm [[1938]].
 
Trong ba năm tiếp theo, ''Wyoming'' tiếp tục các hoạt động ngoài khơi Norfolk, Boston và New York, viếng thăm vùng biển Cuba cũng như Puerto Rico và New Orleans. Ngoài ra nó còn thực hiện chuyến đi thực tập của học viên Học viện Hải quân đến các vùng biển Châu Âu vào năm [[1938]], viếng thăm [[Le Havre, Pháp]]; [[Copenhagen]] và [[Portsmouth, Anh]]. Vào ngày [[2 tháng 1]] năm [[1941]], ''Wyoming'' trở thành soái hạm của Chuẩn đô đốc Randall Jacobs, Tư lệnh Lực lượng Tuần tra Huấn luyện, và tiếp tục vai trò tàu huấn luyện trong suốt những tháng mùa Thu.
 
Vào [[tháng 11]] năm [[1941]], ''Wyoming'' bắt đầu một vai trò mới trong quãng đời hoạt động như một tàu huấn luyện tác xạ. Nó khởi hành từ Norfolk vào ngày [[25 tháng 11]] cho một đợt huấn luyện tác xạ ngoài khơi [[Newport, Rhode Island]], và đang ở ngoài khơi [[Platt's Bank]] khi Nhật Bản [[tấn công Trân Châu Cảng]] vào ngày [[7 tháng 12]] năm [[1941]].
 
=== Chiến tranh Thế giới thứ hai ===
[[Tập tin:USS Wyoming BB-32.jpg|thumb|250px|right|USS ''Wyoming'', ngày [[30 tháng 4]] năm [[1945]].]]
Quay trở về Norfolk vào ngày [[28 tháng 1]] năm [[1942]], ''Wyoming'' lại khởi hành đi [[vịnh Chesapeake]] vào ngày [[5 tháng 2]], bắt đầu một chuỗi vô số các cuộc thực tập huấn luyện tác xạ vốn kéo dài suốt thời gian Thế Chiến II. Sự xuất hiện của chiếc thiết giáp hạm tại khu vực này quen thuộc đến mức nó bị đặt tên lóng "Chesapeake Raider" (Cướp biển Chesapeake). Được phân về Bộ chỉ huy Huấn luyện Tác chiến thuộc Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ, chiếc dreadnought một thời lại phục vụ như một nền tảng huấn luyện cho hàng nghìn pháo thủ, sử dụng các cỡ pháo từ 5 inch đến .50-caliber.
 
Được tái trang bị tại Norfolk từ ngày [[12 tháng 1]] đến [[3 tháng 4]] năm [[1944]], ''Wyoming'' mang một dáng dấp hoàn toàn mới sau khi ra khỏi ụ tàu. Các tháp pháo 12-inch còn lại bị tháo dỡ, thay thế bằng hai tháp pháo [[hải pháo 5 inch/38 caliber|{{convert|5|in|mm|abbr=on}}/38 caliber]] nòng đơn và bốn tháp pháo 5 inch/38 caliber nòng đôi.<ref name="breyer202"/> Ngoài ra, các [[radar]] kiểm soát hỏa lực kiểu mới cũng được trang bị. Nó tiếp tục các hoạt động huấn luyện tác xạ vào ngày [[10 tháng 4]], hoạt động tại khu vực vịnh Chesapeake. Quy mô hoạt động của nó thể hiện qua số liệu được trích ngẫu nhiên: trong [[tháng 11]], ''Wyoming'' đã huấn luyện 133 sĩ quan và 1.329 thủy thủ về tác xạ phòng không. Trong tháng này, nó đã bắn tổng cộng 3.033 quả đạn pháo 5-inch, 849 đạn 3-inch; 10.076 đạn 40 mm; 32.231 đạn 20 mm; 66.270 đạn .30-caliber và 360 đạn 1,1-inch. ''Wyoming'' đã bắn nhiều đạn pháo hơn bất kỳ tàu chiến nào của hạm đội, và đã huấn luyện cho khoảng 35.000 pháo thủ thuộc bảy kiểu pháo khác nhau.
 
Vào ngày [[30 tháng 6]] năm [[1945]], ''Wyoming'' kết thúc nhiệm vụ như một "Chesapeake Raider" khi nó khởi hành từ Norfolk đến Xưởng hải quân New York để cải biến. Rời xưởng tàu ngày [[13 tháng 7]], nó đi vào [[vịnh Casco]] không lâu sau đó, trình diện để hoạt động cùng với [[Phó đô đốc]] [[Willis A. Lee]], Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm Hỗn hợp 69. Nó bắn các loạt pháo thực hành thử nghiệm đầu tiên nhắm vào các sà lan kéo, máy bay giả mục tiêu và mục tiêu điều khiển bằng vô tuyến; trong thành phần đơn vị hoạt động lớn nhất của lực lượng được thành lập để nghiên cứu phương pháp và chiến thuật đối phó với máy bay ''[[kamikaze]]'' của Nhật. Sau đó, Lực lượng Đặc nhiệm Hỗn hợp 69 trở thành Lực lượng Phát triển Tác chiến thuộc Hạm đội Hoa Kỳ vào ngày [[31 tháng 8]]. Sau khi Đô đốc Lee từ trần, quyền chỉ huy đơn vị được chuyển cho Chuẩn đô đốc R.P. Briscoe.
 
Cho dù đã kết thúc nhiệm vụ thử nghiệm vũ khí và chiến thuật mới, ''Wyoming'' tiếp tục là xương sống của đơn vị cho đến hết năm [[1946]]. Vào ngày [[11 tháng 7]] năm [[1947]], ''Wyoming'' đi vào Xưởng hải quân Norfolk và được cho xuất biên chế vào ngày [[1 tháng 8]] năm [[1947]]. Thủy thủ đoàn sau cùng của nó bao gồm vị [[Tổng thống Hoa Kỳ|Tổng thống]] tương lai của Hoa Kỳ, [[Thiếu úy]] [[Jimmy Carter]].<ref>Jimmy Carter Library and Museum, page "Jimmy Carter's Naval Service"[http://www.jimmycarterlibrary.org/documents/jec/jcnavy.phtml]</ref> Nhân sự và phương tiện vật chất của nó được chuyển sang thiết giáp hạm [[USS Mississippi (BB-41)|''Mississippi'']].
 
Tên của ''Wyoming'' được rút khỏi danh sách [[Đăng bạ Hải quân]] vào ngày [[16 tháng 9]] năm [[1947]], và lườn của nó được bán để tháo dỡ vào ngày [[30 tháng 10]] năm [[1947]]. Nó được bàn giao cho người mua xác tàu, hãng Lipsett Inc. tại [[thành phố New York]], vào ngày [[5 tháng 12]] năm [[1947]].
 
== Tham khảo ==