Khác biệt giữa các bản “Chính thống giáo Đông phương”

n
clean up, replaced: → (10), : → : using AWB
n
n (clean up, replaced: → (10), : → : using AWB)
Giáo hội thiết lập và bảo tồn lịch Cơ Đốc nguyên thủy (dựa trên [[lịch Julius|lịch Julian]]), xác lập những ngày lễ kỷ niệm các sự kiện quan trọng trong cuộc đời Chúa Giê-su.
 
Theo dòng lịch sử, các giáo hội Chính Thống chịu ảnh hưởng [[văn hóa Hi Lạp]] liên kết với [[Alexandria]], [[Constantinopolis]] (nay là [[Istanbul]]), cùng các thành phố khác thuộc nền văn minh Hi Lạp; trong khi đó Giáo hội Rôma liên kết với [[Đế quốc La Mã|La Mã]] thuộc [[văn hóa Latin]] và phương Tây. Sự khác biệt ngày càng gia tăng khi [[Đế quốc La Mã|Đế chế La Mã]] bị chia cắt thành hai phần: phương Đông và phương Tây.
== Cấu trúc ==
Chính Thống giáo xem [[Cuộc đời Chúa Giê-xu theo Tân Ước|Chúa Giê-su]] là đầu của hội thánh và hội thánh là thân thể của ngài. Người ta tin rằng thẩm quyền và [[ân điển]] của [[Thiên Chúa]] được truyền trực tiếp xuống các [[giám mục]] và chức sắc giáo hội qua việc đặt tay – một nghi thức được khởi xướng bởi các sứ đồ, và sự nối tiếp lịch sử liên tục này là yếu tố căn bản của giáo hội (Công vụ 8:17; 1Tim 4:14; Heb 6:2). Mỗi giám mục cai quản giáo phận của mình. Nhiệm vụ chính của giám mục là gìn giữ các truyền thống và qui tắc của giáo hội khỏi bị vi phạm. Các giám mục có thẩm quyền ngang nhau và không được can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Về mặt hành chính, các giám mục và các giáo phận được tổ chức thành các nhóm tự quản, trong đó các giám mục họp ít nhất hai lần mỗi năm để bàn bạc về các vấn đề liên quan đến giáo phận của họ. Khi xuất hiện các học thuyết dị giáo, một “đại” công đồng được triệu tập qui tụ tất cả giám mục. Giáo hội xem bảy công đồng đầu tiên (từ [[thế kỷ 4]] đến [[thế kỷ 8]]) là quan trọng nhất mặc dù các hội nghị khác cũng góp phần định hình quan điểm của Chính Thống giáo. Những công đồng này không thiết lập giáo lý cho hội thánh nhưng chỉ so sánh các học thuyết mới với các xác tín truyền thống của giáo hội. Học thuyết nào không phù hợp với truyền thống giáo hội bị xem là dị giáo và bị loại trừ khỏi giáo hội. Các công đồng được tổ chức theo thể thức dân chủ dựa trên nguyên tắc mỗi giám mục một lá phiếu. Dù được phép dự họp và phát biểu tại công đồng, quan lại triều đình Rôma hay [[Đế quốc Đông La Mã|Byzantine]], tu viện trưởng, [[linh mục]], tu sĩ hoặc tín đồ không có quyền bầu phiếu. Trước cuộc Đại Ly giáo năm 1054, Giám mục thủ đô [[Đế quốc La Mã|La Mã]], tức [[Giáo hoàng]], dù không có mặt tại tất cả công đồng, vẫn được xem là chủ tọa công đồng và được gọi là “Người đứng đầu giữa những người bình đẳng”. Một trong những nghị quyết của công đồng thứ nhì, được khẳng định bởi các công đồng sau, là Giám mục thành Constantinople (Constantinople được xem là Rôma mới) được dành vị trí thứ hai. Sau khi tách khỏi Rôma, vị trí chủ tọa công đồng được dành cho [[Thượng phụ thành Constantinople]] với danh hiệu “Người đứng đầu giữa những người bình đẳng”, thể hiện sự bình đẳng của chức vụ này trong phương diện hành chính và tâm linh. Người đảm nhiệm chức vụ này không được xem là đầu của hội thánh hoặc giáo chủ.
 
Theo các ước tính, số tín hữu Chính Thống giáo là từ 150-350 triệu người<ref>[http://www.adherents.com/Na/Na_264.html]</ref>. Chính Thống Đông phương cũng là tôn giáo phổ biến nhất ở [[Belarus]] (89%), [[Bulgaria]] (86%), [[Cộng hòa Síp|Cộng hòa Cyprus]] (88%), [[Gruzia]] (89%), [[Hy Lạp]] (98%), [[Macedonia]] (70%), [[Moldova]] (98%), [[Montenegro]] (84%), [[Romania]] (89%), [[Nga]](76%)<ref>{{chú thích web|url=http://wciom.ru/novosti/press-vypuski/press-vypusk/single/8954.html|title=RUSSIAN PUBLIC OPINION RESEARCH CENTER (tiếng Nga) |accessdate=2007-11-10}}</ref>, [[Serbia]] (88%), và [[Ukraina]] (83%)<ref>[https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/fields/2122.html]</ref>. Tại [[Bosna và Hercegovina|Bosnia và Herzegovina]], tỷ lệ này là 31%, tại [[Kazakhstan]] là 48%, tại [[Estonia]] là 13% và 18% ở [[Latvia]]. Thêm vào đó là các cộng đồng Chính Thống giáo ở [[châu Phi]], [[châu Á]], [[Úc]], [[Bắc Mỹ]] và [[Nam Mỹ]].
 
=== Tội lỗi và sự Cứu rỗi ===
Bản chất của con người, trước khi sa ngã, là tinh tuyền và vô tội. Nhưng hành động bất tuân Thiên Chúa của [[Adam]] và [[Eva (kinh thánh)|Eva]] trong [[Vườn Eden]] đã để [[tội lỗi]] và sự bại hoại thâm nhập vào bản chất tinh tuyền ấy. Tình trạng bất khiết này đã ngăn cản con người hưởng [[Vương quốc Thiên đàng]]. Song, khi Thiên Chúa hóa thân thành người trên dương thế, ngài đã thay đổi bản chất ấy bằng cách hiệp nhất con người với Thiên Chúa; do đó, Chúa Cơ Đốc thường được gọi là “Adam mới”. Bằng cách trở thành người, chết trên cây thập tự, và sống lại, ngài đã thánh hóa các phương tiện ân điển, nhờ đó chúng ta được trở lại với tình trạng tinh tuyền nguyên thủy và phục hòa với [[Thiên Chúa]]. Điều này Chính Thống giáo gọi là được cứu khỏi tình trạng bệnh tật của tội lỗi. Quyền năng của sự [[cứu rỗi]] giải thoát mọi người công chính khỏi quyền lực trói buộc của tội lỗi, kể từ buổi sáng thế, trong đó có cả Adam và Eva.
 
=== Phục sinh ===
== Huyền nhiệm ==
[[Tập tin:Epiphany Mass in the Monastery of Prophet Elias of Santorini.jpg|trái|nhỏ|280px|Lễ Hiển Linh tại tu viện ngôn sứ Elias, [[Santorini]], Hy Lạp]]
Theo thần học Chính Thống giáo, mục tiêu của đời sống Cơ Đốc là đạt đến theosis, sự hợp nhất huyền nhiệm giữa con người và Thiên Chúa, theo như cách diễn đạt của Athanasius thành Alexandria trong tác phẩm ''Incarnation'', “Ngài (Chúa Giê-su) là Thần Linh trở thành người để con người có thể trở thành thần linh (θεοποιηθῶμεν)”.<ref>Athanasius of Alexandria, ''[http://www.ccel.org/ccel/schaff/npnf204.vii.ii.i.html On the Incarnation of the Word]'', [http://www.ccel.org/ccel/schaff/npnf204.vii.ii.liv.html §54].</ref><ref>”Và bởi sự vinh hiển nhân đức ấy, Ngài lại ban lời hứa rất quí rất lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bản thể của Thiên Chúa.” – 2Peter 1:4</ref><ref>”Ta đã nói : Các ngươi là thần, Hết thảy đều là con trai của Đấng Chí Cao.” – Thi thiên 82:6</ref><ref>”Chúa Giê-su đáp rằng: Trong luật pháp của các ngươi há chẳng chép rằng: Ta đã phán: Các ngươi là thần, hay sao? Nếu luật pháp gọi những kẻ được lời Thiên Chúa phán đến là thần…” – Phúc âm Gioan 10: 34-35</ref>
 
Trong ngôn ngữ của Chính Thống giáo, thuật từ “Sự Huyền nhiệm” được dùng để chỉ tiến trình hợp nhất với Thiên Chúa. Nước, dầu, bánh, rượu nho…. là các phương tiện được Chúa sử dụng để đem con dân Chúa đến gần ngài. Tiến trình này được vận hành như thế nào là một sự “huyền nhiệm” khó có thể diễn đạt trong ngôn ngữ loài người.
 
Những nghi thức tôn giáo mà Cơ Đốc giáo phương Tây gọi là Bí tích (''Sacraments''), phương Đông gọi là [[Huyền nhiệm Thiêng liêng]] (''Sacred Mysteries''). Trong khi [[Giáo hội Công giáo Rôma]] có bảy bí tích, và phần lớn cộng đồng [[Tin Lành|Kháng Cách]] công nhận hai bí tích ([[Thanh Tẩy|Báp têm]] và [[Tiệc Thánh]]), Chính Thống giáo không hạn chế số lượng. Tuy nhiên, có bảy Huyền nhiệm lớn trong Chính Thống giáo: Tiệc Thánh, Báp têm, Kiên tín, Xưng tội, Xức dầu thánh, Hôn phối, và Tấn phong.
 
== Chức sắc ==
Từ buổi sơ khai, giáo hội phát triển đến nhiều nơi, các nhà lãnh đạo hội thánh tại mỗi địa phương được gọi là ''episkopoi'' (người cai quản – [[Tiếng Hy Lạp|Hi văn]] ἐπίσκοπος), tức là giám mục. Một chức vụ khác được thiết lập trong hội thánh là ''presbyter'' (trưởng lão – Hi văn πρεσβύτερος), sau trở thành “''prester''”, rồi “''priest''” (thầy tư tế hoặc linh mục), và ''diakonos'' (διάκονος, người phục vụ), về sau thành deacon (chấp sự hoặc phó tế).
 
Chỉ có các giám mục được yêu cầu phải sống độc thân, giáo hội cho phép linh mục và phó tế lập gia đình, và nên kết hôn trước khi được phong chức. Nhìn chung, linh mục giáo xứ được khuyến khích kết hôn, như vậy họ có đủ kinh nghiệm để khuyên bảo tín hữu trong các vấn đề hôn nhân và gia đình. Linh mục độc thân thường là tu sĩ sống trong các tu viện. Linh mục hoặc phó tế góa vợ không nên tái hôn, thường những người này sẽ vào tu viện. Tương tự, vợ góa của các linh mục cũng không nên tái hôn, mà vào tu viện khi con cái đã trưởng thành. Trước đây, phụ nữ có thể đảm nhiệm chức vụ phó tế. Tân Ước và các bản văn khác có đề cập đến vấn đề này. Các nữ phó tế từng được giao các chức trách mục vụ và giáo nghi.<ref name = 'Karras'>{{chú thích tạp chí
| last = Karras
| first = Valerie A.
| quote =
}}</ref>
Mặc dù truyền thống này không được duy trì (lần cuối cùng phong chức phó tế cho một phụ nữ là trong [[thế kỷ 19]]), ngày nay xem ra không có lý do gì ngăn cản phụ nữ đảm trách chức phó tế.
 
== Lịch sử ==
=== Các Dân tộc Slav ===
[[Tập tin:Cross Procession in Novosibirsk 04.jpg|nhỏ|300px|Đoàn rước Thánh giá ở [[Novosibirsk]], Siberia]]
Trong thế kỷ thứ 9 và 10, Chính Thống giáo phát triển về phía đông châu Âu, đến lãnh thổ Rus’ ở Kiev (một quốc gia thời Trung Cổ - tiền thân của [[Nga]], [[Ukraina]] và [[Belarus]]) nhờ những nỗ lực của Cyril và Methodius. Khi Rastislav, vua Moravia, yêu cầu Byzantium gởi giáo viên đến dạy người Moravia bằng ngôn ngữ của họ, Hoàng đế Byzantine, Michael III, chọn hai anh em [[Cyril]] và [[Methodius]]. Vì mẹ của họ là người [[Người Slav|Slav]] đến từ Thessaloniki, cả hai đều có thể sử dụng phương ngữ Slav để dịch [[Kinh Thánh]] và các sách kinh cầu nguyện. Khi các bản dịch của họ được những người sử dụng các phương ngữ khác sao chép, một ngôn ngữ văn chương gọi là [[tiếng Slav]] giáo hội cổ được hình thành. Được sai phái truyền giáo cho người Slav ở vùng Đại Moravia, Cyril và Methodius phải cạnh tranh với các giáo sĩ [[người Frank]] đến từ giáo phận Rôma. Năm 886, các môn đồ của họ bị trục xuất khỏi [[Morava|Moravia]].
 
Một số trong những môn đồ của Cyril và Methodius như Clement, Naum (thuộc dòng dõi quý tộc Bulgaria), và Angelarius, trở lại [[Bulgaria]]. Tại đây, họ được Tsar Boris I đón tiếp. Trong một thời gian ngắn, những người này dạy các chức sắc Bulgaria bảng [[mẫu tự Glagolitic]] và các văn bản Kinh Thánh. Năm 893, ngôn ngữ Slav được công nhận là ngôn ngữ chính thức của giáo hội và nhà nước. Những thành công tại Bulgaria giúp đẩy mạnh các hoạt động qui đạo của các dân tộc Slav, đáng kể nhất là dân tộc Rus’, thủy tổ của các sắc dân Belarus, Nga, và Ukraine.
Mặc dù tính độc lập và quyền tự trị của các giáo phận là đặc điểm của cấu trúc tổ chức và văn hóa bản địa của Chính Thống giáo, hầu hết các giáo phận này đều hiệp thông với nhau. Gần đây, các mối quan hệ đã được phục hồi giữa Giáo hội Chính Thống ngoài Nga và Thượng phụ Moscow, hai cộng đồng này của Chính Thống giáo Nga đã tách rời khỏi nhau từ thập niên 1920, do các lý do chính trị trong thời [[Xô viết|Soviet]].
 
Những bất đồng ngấm ngầm vẫn tồn tại trong vòng các giáo hội cấp quốc gia, một phần là do sự khác biệt trong lập trường đối với [[Phong trào Đại Kết|Phong trào Đại kết]]. Trong khi [[Thượng phụ thành Constantinople]] và các giám mục ở [[Bắc Mỹ]] tập hợp xung quanh Hội đồng Giám mục Chính Thống giáo [[châu Mỹ]], thì các giám mục [[Romania]] mở các cuộc đàm phán với [[Giáo hội Công giáo Rôma]]. Mặt khác, nhiều người, trong đó có các tu sĩ [[Núi Athos]], các [[giám mục]] [[Nga]], [[Serbia]], cùng các chức sắc [[Hy Lạp|Hi Lạp]] và [[Bulgaria]] xem phong trào đại kết là một sự thỏa hiệp về [[thần học]]. Thay vì vậy, theo họ, Chính Thống giáo nên rao giảng chân lý trong tình yêu thương hầu có thể lôi kéo các tín hữu thuộc các giáo phái khác nhau đến với đức tin Chính Thống giáo.
 
Hiện nay, Chính Thống giáo Đông phương có khoảng 350 triệu tín hữu.