Khác biệt giữa các bản “Dòng Tên”

n
clean up, replaced: → (32), : → : (2) using AWB
n (clean up using AWB)
n (clean up, replaced: → (32), : → : (2) using AWB)
{{Infobox organization
|name = Dòng Tên (Dòng Chúa Giêsu)
|image = Ihs-logo.svg
|size = 235px
|abbreviation = S.J.
|motto = Ad maiorem Dei gloriam - Để Vinh Danh Thiên Chúa Hơn
|formation ={{Start date and years ago|df=yes|1540|9|27}}
|headquarters = Nhà Thờ Giê-su (Nhà Thờ Mẹ), General Curia (Nhà Bề Trên Cả)
|location = Rome, Italy
|type = [[Danh sách dòng tu Công giáo|Dòng Tu Công Giáo]]
|leader_title = Bề Trên Cả
|leader_name = Adolfo Nicolás
|main_organ = General Curia
|key_people = [[Inhaxiô thành Loyola|Thánh I-nhã]]—đấng sáng lập <br>[[Giáo hoàng Phanxicô|Jorge Mario Bergoglio (ĐTC Phanxicô)]] - Giáo Hoàng thứ 266
|website = [http://dongten.net dongten.net]
}}
 
Từ ''Tu sĩ dòng Tên'' (Jésuite) hay "Giêsu hữu" xuất hiện sau năm 1545, khi đó người theo [[Tin Lành]] gán cho với nghĩa xấu là "Người đạo đức giả"<ref>Lettre de [[Pierre Canisius]] à l'empereur Oswald II, 5 février 1545 (écrite de Cologne), dans ''Epistulae'', Fribourg, 1896, p. 134.</ref>.
 
Năm [[1537]], Inhaxiô cùng các bạn sang [[Ý]] để xin [[Giáo hoàng]] [[Giáo hoàng Phaolô III|Phaolô III]] công nhận Dòng và đã được giáo hoàng công nhận trong sắc chỉ ''Regimini militantis ecclesiae'' năm [[1539]]. Ngày [[21 tháng 7]] năm 1550, Giáo hoàng [[Giáo hoàng Giuliô III|Julius III]] tái công nhận Dòng trong sắc chỉ "Exposcit debitum".
 
Sau khi [[Cải cách Kháng Cách]] thành công, Giáo hội Công giáo cũng thấy cần phải có một cuộc cải cách, do đó Giáo hoàng [[Giáo hoàng Phaolô III|Phaolô III]] đã triệu tập [[Công đồng Tridentinô]] (ở Trento, Ý từ 1545-1563), trong đó các tu sĩ dòng Tên đã góp phần quan trọng trong [[phong trào Chống cải cách|phong trào chống Cải cách]].
 
Ban đầu, dòng Tên hoạt động chủ yếu trong lãnh vực [[truyền giáo]], nhưng từ năm 1547, dòng đã quay sang tập trung vào lãnh vực [[giáo dục]] cho tới cuối thế kỷ 16. Năm 1551, Dòng đã mở 1 trường trung học ở [[Roma|Rôma]], trong khi các tu sĩ của Dòng đã có mặt ở [[Congo]], [[Brasil]], [[Angola]] và cả [[Đế quốc Ottoman]] với trường trung học thánh Benoît lập năm 1583.
 
Khi Inhaxiô qua đời năm [[1556]]), Dòng đã có trên 1.000 tu sĩ và 60 năm sau, Dòng có trên 13.000 tu sĩ trên toàn [[châu Âu]]. Inhaxiô được Giáo hoàng [[Paul V]] tôn phong [[Chân phước]] năm 1609 và được Giáo hoàng [[Giáo hoàng Grêgôriô XV|Gregory XV]] phong Thánh năm 1622.
Năm [[1550]] và [[1551]], các hội nghị ở [[Valladolid]] công nhận nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người. Văn hóa của người [[thổ dân châu Mỹ|da đỏ]] bản xứ được công nhận. Mặc dù vậy, một số thực dân vẫn tiếp tục lạm dụng người da đỏ và đối xử với họ như [[nô lệ]]. Các tu sĩ dòng Tên đã học ngôn ngữ và phong tục tập quán của người bản xứ và lập ra các tổ chức xã hội để giúp đỡ các người bản xứ.
 
Ngay khi tới [[Peru]], năm 1566, các tu sĩ dòng Tên cũng đã lập các khu tập trung truyền giáo và dạy chữ cho các người da đỏ [[Mojos]] (hoặc Moxos), [[Chiquitos]] và [[Guarani]]. Tuy nhiên, do sự căng thẳng giữa dòng Tên với các viên chức thuộc địa và sự chống đối của Tây ban nha và Bồ Đào Nha, các khu này đã dần dần biến mất. Các tu sĩ dòng Tên đã buộc phải dời bỏ các khu truyền giáo ở Nam Mỹ năm 1767, các khu này bị phá, ngoại trừ khu của người Chiquitos và Mojos.
 
Trên thế giới, dòng Tên tranh đấu chống ảnh hưởng của [[Tin Lành]]. Dòng Tên đã phải đối mặt với các cuộc bách hại dữ dội vì lập trường thần học của mình và việc ủng hộ [[Giáo hoàng]] vô điều kiện. Dòng đã bị giải tán trên lãnh thổ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha năm 1767.
Vào năm [[1580]], các tu sĩ dòng Tên thiết lập [[Maison Professe]] ở [[Paris]], trong khu [[Le Marais (Paris)|Marais]], để tiếp đón các nhà thần học và khoa học. Đồng thời họ cũng quyết định lập 1 nguyện đường lớn cạnh Maison Professe (nay là [[nhà thờ]] Saint-Paul Saint-Louis). Tháng 5/1641, Hồng y [[de Richelieu]] đã dâng thánh lễ misa đầu tiên tại nhà thờ này. Giới quí tộc thường tới đây dâng lễ và nghe giảng. Bà [[de Sévigné]] cũng tới dây dâng lễ, nghe linh mục [[Louis Bourdaloue]] (1 người thuyết giảng nổi tiếng) giảng thuyết. Người ta cũng tới đây nghe nhạc của những nhạc sĩ [[Pháp]] tên tuổi đương thời như [[Marc-Antoine Charpentier]] và [[Jean-Philippe Rameau]].
 
Người ta nghi ngờ các tu sĩ Dòng Tên đã dính líu đến vụ [[ám sát]] vua [[Henri IV của Pháp|Henri IV]] - ông vua đã chấm dứt tình cảnh [[chiến tranh tôn giáo Pháp|chiến tranh tôn giáo]] Pháp vào thế kỷ thứ 16.<ref name="Wilson318">Ellen Judy Wilson, Peter Hanns Reill, ''Encyclopedia of the Enlightenment'', trang 318</ref> Trong các năm [[1656]] - [[1657]], theo yêu cầu của phái [[jansénisme]], [[Blaise Pascal]] đã công kích Dòng Tên trong tập ''[[Les Provinciales]]'' (gồm 18 thư) về vấn đề thần học trong các tình huống khó khăn (''casuistique'').
 
[[Tập tin:LifeAndWorksOfConfucius1687.jpg|250px|nhỏ|Cuộc đời và sự nghiệp của [[Khổng Tử]], tác phẩm của linh mục Prospero Intorcetta, 1687.]]
== Các khó khăn, việc bãi bỏ và tái lập ==
 
Trong suốt lịch sử của Dòng Tên, họ đã phải trải qua những năm tháng gian khổ.<ref name="Wilson318"/> Các năm [[1704]] và [[1742]], Giáo hoàng ra lệnh cấm các nghi lễ Trung Hoa, mang nét của thuyết hỗn hợp (syncretism) mà các nhà truyền giáo dòng Tên đã tôn trọng.
 
Quốc gia châu Âu đầu tiên nỗ lực trục xuất Dòng Tên là [[Bồ Đào Nha]]. Vào năm [[1758]], các tu sĩ Dòng Tên bị quan Tổng trưởng Đế quốc (tương đương [[Thủ tướng]]) [[Hầu tước Pombal|Sebastião José de Carvalho e Melo]] gán cho cái tội mưu sát vua [[José I của Bồ Đào Nha|José I]]. Không những thế, Melo còn tiến hành [[tuyên truyền]] bài trừ Dòng Tên trên khắp châu Âu, để các nước khác ủng hộ ông ta. Cuối cùng, vào năm [[1759]], ông ta ban bố sắc lệnh đuổi Dòng Tên ra khỏi Bồ Đào Nha. Không lâu sau, Pháp theo chân Bồ Đào Nha, quan Tổng trưởng Ngoại giao là [[Công tước Choiseul]] và ái thiếp của vua [[Louis XV của Pháp|Louis XV]] là [[Nữ Hầu tước Pompadour]] chống đối ảnh hưởng của Dòng Tên. Họ gán cho Dòng tội mưu sát vua Louis XV, dù không phải là chủ mưu.<ref name="Wilson318"/> Họ bị những người theo thuyết Giansêniô ([[Jansénisme]]) và các triều thần tấn công, rồi bị cấm và bị trục xuất khỏi Pháp năm [[1763]]-[[1764]], khoảng 200 trường của họ bị đóng cửa. Theo gót Pháp, vua [[Đế quốc Tây Ban Nha|Tây Ban Nha]] là [[Carlos III của Tây Ban Nha|Carlos III]] đã trục xuất Dòng Tên ra khỏi đất nước ([[1767]]), không những thế, ông ta còn đuổi các tu sĩ Dòng Tên ra khỏi ra khỏi xứ [[Napoli]] (1767) và xứ [[Parma]] ([[1768]]) - những xứ nằm dưới quyền thống trị của thân quyến của ông ta.<ref name="Wilson318"/>
 
== Ngày nay ==
Tính đến ngày [[1 tháng 1]] năm [[2005]], Dòng có 19.850 tu sĩ ở rải rác tại 112 quốc gia trên thế giới<ref>[http://www.fides.org/fra/news/2005/0503/31_3821.html Agenzia Fides - EUROPE / ITALIE - Le nombre des Jésuites est de {{formatnum:19850}} : confirmation de la tendance des dernières années, d’une diminution du nombre des prêtres et des frères</ref>, so với khoảng 35.000 năm 1964. Cũng giống như các dòng khác của Giáo hội Công giáo, Dòng Tên cũng bị giảm ơn gọi (đi tu). Ngày nay phần lớn các tu sĩ dòng Tên có mặt tại [[châu Á]] (khoảng 3.500 ở [[Ấn Độ]]), ở [[châu Mỹ latin]] và [[châu Phi]]. Hiện dòng có khoảng 900 người dự tu.
 
Linh mục bề trên tổng Dòng hiện nay là Adolfo Nicolás, người Tây Ban Nha, được bầu trong đại hội dòng lần thứ 35 ngày [[21 tháng 1]] năm 2008<ref>{{fr}} [[:n:Les Jésuites élisent Adolfo Nicolás comme supérieur général|« Les Jésuites élisent Adolfo Nicolás comme supérieur général »]] sur [[Wikinews]], le 21 janvier 2008.</ref>, thay thế cho linh mục [[Peter Hans Kolvenbach]] (người [[Hà Lan]]) từ chức ngày [[7 tháng 1]] năm 2008. Đặc biệt, vào ngày [[13 tháng 3]] năm [[2013]], Hồng y Jorge Mario Bergoglio thuộc Dòng Tên được bầu làm [[giáo hoàng]] thứ 266 của [[Giáo hội Công giáo Rôma|Giáo hội Công giáo]], ông lấy tông hiệu là [[Giáo hoàng Phanxicô]]
 
* Alain Woodrow et Albert Longchamp, ''Les Jésuites. Histoire de pouvoirs''. Paris, [[Jean-Claude Lattès]], [[1984]]. {{ISBN|2010181107}}
* [[Gerhard Ritter]], [http://books.google.com.vn/books?id=mY-CaPwcxBEC&dq=%22Frederick+the+Great%22&q=Jesuits#v=snippet&q=Jesuits&f=false ''Frederick the Great : a historical profile''], University of California Press, 1975. ISBN 0-520-02775-2.
* François de Dainville, ''L'éducation des Jésuites (XVIe-XVIIIe siècles)''. Paris: éd. de Minuit, [[1978]]. (Le sens commun). {{ISBN|2-7073-0222-8}}.
* Ellen Judy Wilson, Peter Hanns Reill, [http://books.google.com.vn/books?id=t1pQ4YG-TDIC&pg=PA320&dq=%22jesuits#v=onepage&q=%22jesuits&f=false ''Encyclopedia of the Enlightenment''], Infobase Publishing, 2004. ISBN 0-8160-5335-9.