Khác biệt giữa các bản “Giáo phận Kon Tum”

không có tóm lược sửa đổi
n (→‎Tham khảo: Thêm thể loại using AWB)
|trực thuộc = Giáo tỉnh Huế
|giám mục= [[Micae Hoàng Đức Oanh]]
|giám mục hết nhiệm=[[Phêrô Trần Thanh Chung]]
|tòa giám mục= 56 Trần Hưng Đạo, Thắng Lợi Tx Kontum, Tỉnh KonTum
|nhà thờ chính tòa=[[Nhà thờ chính tòa Kon Tum|Nhà Thờ Gỗ KonTum]]
|giáo dân =234.751 (2008)
}}
'''Giáo phận Kon Tum''' ([[latinh|tiếng Latin]]: ''Dioecesis Kontumensis'') là một [[giáo phận]] [[Giáo hội Công giáo Rôma|Công giáo Rôma]] tại [[Việt Nam]]. GiámĐây mục cai quản giáo phận từCông nămgiáo [[2003]]lâu đời Michelnhất Hoàng Ðúcvùng OanhTây Nguyên. [[NhàĐịa thờgiới chínhgiáo tòaphận Konrộng Tum|Nhà25.728 km², thờtương chánhứng tòachủ Konyếu Tum]]với đượccác xâytỉnh dựng[[Gia phầnLai]] lớn bằng[[Kon gỗTum]]. nênDân còn đượccũng gọinhư tín nhàđồ thờchủ gỗ,yếu nằm tạingười [[kondân Tumtộc (thành phố)|thịĐăng, Ba KonNa, Tum]].Giẻ ĐịaTriêng, giớiGia giáo phận rộng 25Rai..728 km² ở [[Tây Nguyên]].
 
Đương kim giám mục là Michel Hoàng Ðúc Oanh cai quản giáo phận từ năm [[2003]].
 
==Lược sử==
Đầu năm 1842, Giám mục Tông tòa Đàng Trong [[Etienne Théodore Cuénot]] (tên Việt: ''Thể'') đã cử 2 lịnh mục J.C. Miche Mịch, Duclos Lộ cùng thầy giảng Micae Cuông tới vùng [[Tây Nguyên]] để khai cuộc truyền giáo. Tuy nhiên, chuyến đi đầu tiên này không thành công, vì vậy liên tiếp trong những năm 1842-1846, Giám mục Cuénoi Thể liên tiếp sai linh mục, thầy giảng và giáo dân tìm đường lên Tây Nguyên qua ngả [[Quảng Nam]], [[Quảng Ngãi]], nhưng việc đều không thành.
 
Năm 1848, [[Tự Đức]] lên ngôi và ban hành chỉ dụ cấm đoán [[Công giáo]]. Một nhà truyền giáo trẻ người VIệt là Nguyễn Do đã tìm cách mở đường lên vùng Bắc Tây Nguyên lánh nạn. Ông tìm thấy một thung lũng khá rộng, đất đai phì nhiêu nằm trên sông Dak Bla có thể định cư sinh sống, thời bấy giờ vẫn còn rất hoang sơ với cư dân thưa thớt và hầu như không có bóng dáng người Kinh. Hai năm sau đó, 2 linh mục Pháp và 7 thầy giảng người Việt, cùng nhiều tín đồ, phần đông là người tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, đã lánh nạn lên đây sinh sống, định cư, lập thành làng Gò Mít, nay là khu Tân Hương, trung tâm thành phố Kontum. Hai trong 4 trung tâm truyền giáo đầu tiên của vùng Tây Nguyên được đặt ở vùng Kontum ngày nay: Kon Kơ Xâm (do linh mục Combes phụ trách, truyền giáo bộ tộc Bahnar-Jơlơng) và Kon Trang (do linh mục Dourisboure phụ trách, truyền giáo bộ tộc Sêđăng).
 
Năm 1898, thực dân Pháp lập tòa đại lý hành chính ở nơi đây và trực thuộc Tòa Khâm sứ Quy Nhơn, giao cho linh mục thừa sai P. Viallenton Truyền cai quản. Năm 1907, tòa đại lý đổi thành tòa công sứ Lúc đó tỉnh Kontum bao gồm hai tỉnh Pleiku và Đắk Lắk. Đắk Lắk tách rời khỏi Kontum vào năm 1923, rồi tỉnh Pleiku cũng tách ra vào năm 1929. Ngày [[14 tháng 1]] năm 1932, [[Giáo hoàng Piô XI|Piô XI]] quyết định thành lập [[Giáo phận Kon Tum]] gồm ba tỉnh Kontum, Pleiku, Đăklăk và một phần lãnh thổ Attâpư thuộc Lào, phong Linh mục M. Jannin Phước làm Giám mục hiệu tòa Gadara và bổ nhiệm ông làm Giám quản Tông tòa Giáo phận Kontum.
 
Ngày [[22 tháng 6]] năm 1967, [[Giáo hoàng Phaolô VI]] ra Sắc chỉ Qui Dei Benignitate, tách tỉnh [[Đăklăk]] thuộc Giáo phận Kontum, hợp với các tỉnh [[Quảng Đức]] và [[Phước Long (tỉnh)|Phước Long]] (từng thuộc các giáo phận [[Giáo phận Đà Lạt|Ðà Lạt]], để thành lập [[Giáo phận Ban Mê Thuột]]. Từ đó, Giáo phận Kontum ổn định địa giới cho đến ngày nay.
 
==Các danh địa giáo phận==
===Nhà thờ Chánh tòa và Tòa Giám mục===
{{main|Nhà thờ chính tòa Kon Tum}}
[[Nhà thờ chính tòa Kon Tum|Nhà thờ chánh tòa Kon Tum]] được xây dựng phần lớn bằng gỗ nên còn được gọi là nhà thờ gỗ, nằm tại [[Kon Tum (thành phố)|thị xã Kon Tum]].
 
===Thánh địa hành hương===
 
===Các nhà thờ và tu viện lớn===
 
==Các đời giám mục quản nhiệm==
 
==Các danh địa giáo phận==
===Nhà thờ Chánh tòa và Tòa Giám mục===
{{main|Nhà thờ chính tòa Quy Nhơn}}
===Thánh địa hành hương===
 
===Các nhà thờ và tu viện lớn===
 
==Các đời giám mục quản nhiệm==
{| class="prettytable sortable"
|-
! width="2%" align="center"|STT
! width="40%" align="center"|Tên
! width="15%" align="center"|Thời gian quản nhiệm
! width="35%" align=center | Ghi chú
|-
| [[Tập tin:Giám mục phụ tá.png|20px]] 1
| [[Martial-Pierre Jannin]] Phước
| 1933-1940
|
|-
| [[Tập tin:Giám mục phụ tá.png|20px]] 2
| [[Jean-Liévin Sion]] Khâm
| 1941-1951
|
|-
| [[Tập tin:Giám mục phụ tá.png|20px]] 3 [[Tập tin:Giám mục chính tòa.png|20px]]
| [[Paul-Léon Seitz]] Kim
| 1952-1960<br>1960-1975
|
|-
| [[Tập tin:Giám mục chính tòa.png|20px]] 4
| [[Alexis Phạm Văn Lộc]]
| 1975-1995
|
|-
| [[Tập tin:Giám mục phụ tá.png|20px]] 5 [[Tập tin:Giám mục chính tòa.png|20px]]
| [[Phêrô Trần Thanh Chung]]
| 1981-1995<br>1995-2003
|
|-
| [[Tập tin:Giám mục chính tòa.png|20px]] 6
| [[Micae Hoàng Đức Oanh]]
| 2003-nay
|
|}
 
'''Ghi chú:'''
*[[Tập tin:Giám mục chính tòa.png|20pxpx]]: Giám mục chính tòa
*[[Tập tin:Giám mục phụ tá.png|20pxpx]]: Giám mục phó, phụ tá hoặc giám quản tông tòa
==Chú thích==
{{tham khảo}}
 
==Tham khảo==
<references/>
 
{{Các Giáo phận Công giáo tại Việt Nam}}
202.227

lần sửa đổi