Khác biệt giữa các bản “Georg von Kameke”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (Robot: Sửa đổi hướng)
n
'''Arnold Karl Georg von Kameke''' ([[14 tháng 4]] năm [[1817]], tại [[Pasewalk]] – [[12 tháng 10]] năm [[1893]], tại [[Berlin]]) là một [[Thượng tướng Bộ binh (Đức)|Thượng tướng Bộ binh]] và [[Bộ trưởng Chiến tranh Phổ|Bộ trưởng Chiến tranh]] của [[Phổ (quốc gia)|Phổ]].
 
Ông là một thành viên trong [[Kameke (dòng họ quý tộc)|dòng họ quý tộc lâu đời Kameke]] tại Pommern. Ông là con trai của cố [[Trung tướng]] [[Georg Christian Friedrich von Kameke]] ([[1770]] &ndash; [[1837]]). Người em trai của ông là [[Hermann von Kameke|Hermann Friedrich Wilhelm]] ([[1819]] &ndash; [[1889]]) cũng theo đuổi một sự nghiệp [[quân sự]] được thăng đến [[Thượng tướng]] [[Bộ binh]]. Sau khi học trung học ở [[Szczecin|Stettin]], Kameke đã khởi đầu sự nghiệp [[quân sự]] của mình vào năm [[1834]] trong khu [[công binh]] số 2 tại thành phố này. Vào năm [[1836]], ông trở thành một [[sĩ quan]] trong [[quânQuân đoàn]] công binh và kỹ thật, rồi vào năm [[1850]], sau khi được phong cấp [[Đại úy]], ông được đưa vào [[Bộ Tổng tham mưu Đức|Bộ Tổng tham mưu]]. Vào năm [[1861]], ông được lên chức [[Đại tá]] và trao quyền [[chỉ huy quân sự|chỉ huy]] [[Trung đoàn Phóng lựu "Vua Friedrich" (Schlesien số 2) số 11]]<ref>Georg v. Alten (Hrsg.): ''Handbuch für Heer und Flotte'', Band 5, Deutsches Verlagshaus Bong & Co., Berlin 1913, S. 243 f.</ref>, và vào năm [[1863]] ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của ''[[Quân đoàn VIII (Đế quốc Đức)|Quân đoàn VIII]]''. Vào năm [[1865]], ông trở thành một [[Thiếu tướng]] và không lâu sau đó ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của ''[[Quân đoàn II (Đế quốc Đức)|Quân đoàn II]]''.
 
Ông đã tham gia trong cuộc [[Chiến tranh Áo-Phổ]] năm [[1866]] với cương vị là Tham mưu trưởng của ''Quân đoàn II''. Vào năm [[1867]], ông được bổ nhiệm làm tổngTổng chỉ huy của quânQuân đoàn công binh và kỹ thuật; vào năm [[1868]] ông được phong hàm [[Trung tướng]].
 
Trong cuộc [[Chiến tranh Pháp-Phổ|Chiến tranh Pháp-Đức]] ([[1870]] &ndash; [[1871]]), Kameke chỉ huy ''[[Sư đoàn số 14 (Đế quốc Đức)|Sư đoàn Bộ binh số 14]]'' và chiến đấu trong các trận đánh quyết liệt tại [[Trận Spicheren|Spicheren]], [[Trận Borny-Colombey|Borny-Colombey]] và [[Trận Gravelotte|Gravelotte-St. Privat]]. Sau khi [[quân đội Phổ]] &ndash; [[Đức]] [[cuộc vây hãm Metz (1870)|hạ được]] [[Hệ thống công sự tại Metz|pháo đài]] [[Metz]], ông xua quân chinh phạt các thành [[Cuộc vây hãm Thionville|Thionville]], [[Cuộc vây hãm Montmédy|Montmédy]] và [[Cuộc vây hãm Mézières|vây hãm]] [[Charleville-Mézières|Mézières]] của Pháp. Nhưng trước khi Méziéres thất thủ, ông được Bộ Tổng Chỉ huy quân đội Đức triệu tập đến thành phố [[Versailles]] vào ngày [[23 tháng 12]] năm [[1870]] để chỉ đạo cuộc tấn công của lực lượng công binh nhằm vào [[Paris]]. Nhờ những cống hiến của mình đối với quân lực [[Vương quốc Phổ|Phổ]] trong cuộc [[chiến tranh]] này, ông đã được ban thưởng 100.000 [[thaler]]. Vào ngày [[18 tháng 12]] năm [[1871]], ông được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng quân đoàn công binh và tướng thanh tra của các [[pháo đài]].
 
Vào ngày [[9 tháng 11]] năm [[1873]], Kameke kế nhiệm [[Albrecht von Roon]] làm Bộ trưởng Chiến tranh. Vào ngày [[22 tháng 3]] năm [[1875]], ông được bổ nhiệm làm [[Thượng tướng Bộ binh (Đức)|Thượng tướng Bộ binh]]. Vào ngày [[3 tháng 3]] năm [[1883]], ông rời nhiệm sở và lui về điền trang của mình, Hohenfelde gần [[Kolberg]] tại [[Pomerania|Pommern]].