Khác biệt giữa các bản “Cưu-ma-la-thập”

Không thay đổi kích thước ,  14 năm trước
n
Robot: Tự động sửa văn bản (-[[Category: +[[Thể loại: & -[[Image +[[Hình & -|thumb| +|nhỏ| & -|left| +|trái| & -|right| +|phải| & -Ð +Đ)
n (robot Thêm: zh)
n (Robot: Tự động sửa văn bản (-[[Category: +[[Thể loại: & -[[Image +[[Hình & -|thumb| +|nhỏ| & -|left| +|trái| & -|right| +|phải| & -Ð +Đ))
'''Cưu-ma-la-thập''' ([[chữ Nho]]: 鳩摩羅什; [[tiếng Phạn]]: ''kumārajīva''; dịch nghĩa là '''ÐồngĐồng Thọ'''; sinh năm [[344]], mất năm [[413]]) là một [[dịch giả]] [[Phật học]] nổi tiếng, chuyên dịch kinh sách từ văn hệ tiếng Phạn ra tiếng Hán.
 
==Tiểu sử==
Cưu-ma-la-thập xuất phát từ một gia đình quí tộc tại [[Dao Tần]] (''kucha''), thuộc xứ [[Tân Cương]] ngày nay.
 
Mới lên bảy, Cưu-ma-la-thập đã cùng mẹ là một công chúa gia nhập Tăng-già. Hai mẹ con đến [[Kashmir]] và học giáo lí [[Phật giáo Tiểu thừa|Tiểu thừa]] với các vị sư nổi tiếng nhất. Sau đó hai người lưu lại tại Kashgar một năm và Sư học thêm ngành [[thiên văn]], [[toán học]] và khoa học huyền bí. Cũng nơi đó, Sư bắt đầu tiếp xúc với [[Phật giáo ÐạiĐại thừa|ÐạiĐại thừa]] và sau đó chuyên tâm tìm hiểu giáo pháp này. Dần dần danh tiếng của Sư là luận sư xuất sắc lan xa, đến tới triều đình [[Trung Quốc]].
 
Năm [[384]] Sư bị bắt trong một cuộc chiến tranh tại Dao Tần và bị một viên tướng Trung Quốc giam giữ 17 năm. Năm [[401]] Sư được đưa về [[Trường An]] và được triều đình Trung Quốc ủng hộ trong công tác dịch kinh. Sư bắt đầu công trình dịch thuật với sự góp sức của hàng ngàn nhà sư khác. Cùng năm này, Sư được phong danh hiệu "Quốc sư".
*[[Bách luận]] (''śataśāstra'', năm [[404]]) của Thánh Thiên (''āryadeva'')
*[[Trung quán luận tụng]] (''madhyamaka-kārikā'', năm [[409]])
*[[ÐạiĐại trí độ luận]] (''mahāprajñāpāramitā-śāstra'', năm [[412]])
*[[Thập nhị môn luận]] (''dvādaśadvāra-śāstra'', năm 409) của Long Thụ (''nāgārjuna''), người thành lập [[Trung Quán tông]] (''mādhyamika'')
*[[Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh]]
103.810

lần sửa đổi