Khác biệt giữa các bản “Tây Liêu”

không có tóm lược sửa đổi
'''Tây Liêu''' ({{zh|s=西辽|t=西遼|p=Xī Liáo}}) ([[1124]] hoặc [[1125]]-[[1218]]), còn gọi là '''Hãn quốc Kara-Khiết Đan''', được thành lập bởi [[Da Luật Đại Thạch]] (耶律大石) người đã dẫn khoảng 100.000 hậu duệ người [[Khiết Đan]] sau khi thoát khỏi sự xâm lăng của người [[Nữ Chân]] vào đất nước họ, [[nhà Liêu]] hay vương triều Khiết Đan.
 
Nhà nước này tồn tại cho đến khi các đội quân kỵ binh [[Mông Cổ]] của [[Thành Cát Tư Hãn]] tràn xuống (20.000 quân do viên tướng trẻ [[Triết Biệt]] chỉ huy) và nó được người châu Âu nói đến như là '''Kara-Kitai''', '''Kara-Khitai''', '''Kara-Khitay''', '''Kara-Khitan'''; còn ở [[Trung Quốc]] thì là '''Tây Liêu'''. Các hậu tố '''Kitai''' hay '''Khitai''' được nói đến trong các sử liệu [[Nga]].
 
== Lịch sử hình thành ==
Thị tộc [[Hồi giáo]] của các hoàng thân Qarluk, Balasaghunlu Ashinalar (những người Karakhanid) đã đến khu vực văn hóa Hồi giáo [[Iran|Ba Tư]] sau khi sự độc lập và chủ quyền chính trị của họ trên khu vực Trung Á đạt được trong [[thế kỷ 9]]-[[thế kỷ 10|10]].
 
Khi họ càng trở nên Ba Tư hóa nhiều hơn (thời điểm chấp nhận "Afrasiab", một nhân vật huyền thoại Shahnameh như là tổ tiên trực hệ của họ), họ đã sống trong các trung tâm cố định mang tính [[Ấn Độ]]-[[Iran]] nhiều hơn, chẳng hạn như Qashgari và quên dần đi các truyền thống du cư của những người Qarluq anh em, nhiều người trong số họ theo sự hòa trộncác tôn giáo: giữa 3 dòng Thiên chúa[[Cảnh giáo]], Nestorian-[[Phật giáo Đại Thừa-thừa]] và [[Mani giáo|Minh giáo]] của hãnHãn quốc Hồi Hột trước đây.
 
Khi người Khiết Đan tới, cùng với việc thuê những [[người Nãi Man]] theo [[Thiên ChúaCảnh giáo|Thiên chúa giáo]] dòng Nestorian, họ còn thu nhận được sự ủng hộ trong số những người Qarluk từ Semirechye đến khu vực Irtysh.
 
Mặc dù trong các nguyên tắc tổ chức chủ yếu là dựa theo [[Phật giáo]] [[Đại thừa]] và [[Nho giáo|Khổng giáo]], nhưng các quý tộc Khiết Đan cũng chấp nhận rộng rãi các yếu tố của Thiên[[Kitô chúagiáo|Cơ đốc giáo]] dòngnhánh NestorianCảnh giáo, được phản ánh trong các tên gọi theo kiểu Thiên chúađốc giáo của các hãn vương (Gur-Khans) của Kara-Khiết Đan.
 
Sự xâm chiếm của người Khiết Đan vào Trung Á có thể coi như cuộc đấu tranh nội bộ của bộ lạc du cư Qarluk, được thể hiện ra ngoài như là mâu thuẫn triều chính giữa tầng lớp quý tộc Khiết Đan xâm lăng và các hoàng tử Kara-Khanid phòng ngự, tạo ra trong sự chinh phục những người sau bởi những người trước và trong sự chinh phục những người Qarluk Hồi giáo bởi những họ hàng của họ và những người Nãi Man theo Thiên chúaCảnh giáo dòng Nestorian.
 
== Quá trình phát triển và suy vong ==
Trước đó năm 1123, Thiên tộ hoàng đế nhà Liêu không nghe lời Gia Luật Đại Thạch nên hoàn toàn bại trong tay quân Kim. Năm 1125, Liêu diệt vong. Gia Luật Đại Thạch đem quân tiến sang phía tây, bình định được các vùng Imil,Khadidistan. Sau chiếm cả vùng Trung Á chiếm giữ xứ Tầm Tư Can (Samarkand), xưng vương, xưng đế, cai trị suốt cả một vùng đông tây xứ Thông Lĩnh, lập nên đế quốc Tây Liêu, kề sát bên [[đế quốc Đại Seljuk]] của người Hồi giáo trải dài từ bờ biển Địa Trung Hải cho đến Trung Á. Lúc đó các nước [[Armenia]], [[Gruzia]], [[Nhà Abbas|Ả Rập]], Qarakhanids và Gaznawids đều là chư hầu của Đại Seljuk.
 
Vào thời gian này đế quốc Đại Seljuk ở Trung Á đã suy yếu, quân Tây Liêu tràn sang phía đông lãnh thổ Đại Seljuk và tiêu diệt chư hầu quan trọng của đế quốc Đại Seljuk là Đông Qarakhanids. Vào năm 1141 tại [[trận Qawan]] quân Tây Liêu đánh bại [[sultan]] [[Ahmed Sanjar]] nhà Seljuk, thu được nhiều của cải chở về kinh đô Balasagun. Tây Liêu chiếm được phần phía đông của đế quốc Seljuk cho đến sông Sayhun (Jaxartes), không lâu sau đó đế quốc Seljuk sụp đổ vào năm 1157. Tây Liêu là nước duy nhất lúc ấy đánh bại được đế quốc Seljuk hùng mạnh, đến nỗi Giáo hoàng tưởng nhầm Gia luật Đại Thạch là một đại vương Thiên Chúađốc giáo, bởi không phải đại Thiên chúađốc giáo thì làm sao đánh nổi Thổ, tôn xưng là giáo sĩ Jean, người đại diện cho Thiên Chúađốc giáo ở phương Đông. Tây Liêu có các chư hầu Khwarezm, Qarluqs, Cao Xương Hồi Cốt, Khương Lý và Đông, Tây Fergana Kara-Khanids và [[người Nãi Man]].
 
Nhà Tây Liêu vẫn giữ nguyên hình thức quản lý đã áp dụng từ nước Liêu cũ trong đó gồm cả lý luận Nho giáo, lịch pháp Trung quốc, chức danh quản lý hành chính, đơn vị tiền tệ, phong tục của người Khiết đan. Các ngôn ngữ được sử dụng đồng thời là tiếng Hán, Khiết đan, Batư và Uighur. Về sau một số phong tục địa phương cũng được áp dụng. Danh hiệu Gurkhan (cúc nhi hãn, vị vua vĩ đại) được dành cho hoàng đế. Quân đội được trả lương. Nghi lễ của người Khiết đan và Phật giáo được sử dụng trong các hoạt động văn hóa, bao gồm cả việc hiến sinh ngựa trắng và bò xám.