Khác biệt giữa các bản “Enver Hoxha”

n
clean up, replaced: → (12) using AWB
(→‎Liên kết ngoài: Thêm thể loại [VIP] using AWB)
n (clean up, replaced: → (12) using AWB)
==Tiểu sử==
[[Hình:Hodza house.jpg|nhỏ|trái|250px|Căn nhà nơi Hoxha lớn lên tại [[Gjirokastër]]]]
Hoxha sinh ra tại [[Gjirokastër]], một thành phố ở miền nam Albania (khi đó thuộc về [[đế quốc Ottoman]]) thành phố này cũng là quê hương của nhiều gia đình danh giá. Ông là con trai của Halil Hoxha, một thương nhân buôn vải người Tosk [[giáo đoàn Bektashi|Bektashi]]<ref>[http://www.bektashi.net/bio-babarexheb.html Biography of Baba Rexheb]: "[Enver Hoxha was] from the Gjirokastër area and [he] came from [a family] that [was] attached to the Bektashi tradition. In fact, fourteen years before Enver set off for France to study, his father brought him to seek the blessing of Baba Selim. The baba was not one to refuse the request of a petitioner and he made a benediction over the boy."</ref> bôn ba trên khắp [[châu Âu]] và [[Hoa Kỳ]], và Gjylihan (Gjylo) Hoxha. Vào năm 16 tuổi, ông đã góp phần vào việc thành lập và trở thành thư ký của Hiệp hội học sinh Gjirokastër, một tổ chức phản đối chính quyền quân chủ. Sau khi hiệp hội bị chính phủ trấn áp, ông rời quê hương và chuyển đến [[Korçë]], tiếp tục theo học ở một trường trung học Pháp. Tại đây, ông học lịch sử, văn học và triết học Pháp. Tại thành phố này, ông đọc ''[[Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản]]'' lần đầu tiên.<ref>''A Coming of Age: Albania under Enver Hoxha'', James S. O'Donnell, New York 1999, p. 193.</ref>
 
[[Tập tin:Enver Hoxha aged 18 1927.jpg|nhỏ|phải|Enver Hoxha năm 18 tuổi]]
Năm 1930, Hoxha đến học tại [[Đại học Montpellier]] ở Pháp theo một học bổng cấp nhà nước về các ngành [[khoa học tự nhiên]]. Ông đã tham gia các bài học và hội nghị của Hiệp hội Công nhân do [[Đảng Cộng sản Pháp]] tổ chức, song ông đã sớm từ bỏ vì muốn theo đuổi bằng triết học hay luật. Sau một năm, không quan tâm nhiều đến [[sinh học]], ông đã rời Montpellier để đến Paris với hy vọng tiếp tục theo học đại học. Ông theo khóa học triết học tại [[Đại học Paris|Sorbonne]], và ông đã cộng tác với báo ''[[L'Humanité]]'', viết các bài báo về tình hình ở Albania dưới [[bút danh]] ''Lulo Malësori''. Ông cũng tham gia vào một nhóm cộng sản Albania dưới sự giám hộ của [[Llazar Fundo]], người này cũng dạy luật cho ông.<ref>Hamm, Harry. ''Albania—China's Beachhead in Europe''. New York: Frederick A. Praeger, Inc., 1963., p. 84, 93.</ref>
 
Ông lại sớm từ bỏ một lần nữa, và từ năm 1934 đến 1936, ông là một thư ký tại lãnh sự quán Albania ở [[Bruxelles]], thuộc văn phòng nhân sự của Thái hậu [[Sadijé Toptani|Sadijé]]. Ông bị sa thải sau khi lãnh sự phát hiện ra Hoxha đã để các tài liệu và sách về [[chủ nghĩa Marx]] trong văn phòng. Hoxha quay trở lại Albania vào năm 1936 và trở thành một giáo viên ngữ pháp tại Korçë. Do được tiếp thu giáo dục bậc cao, Hoxha thành thạo [[tiếng Pháp]] và có kiến thức tương đối về [[tiếng Ý]], [[tiếng Serbia]], [[tiếng Anh]] và [[tiếng Nga]]. Khi là lãnh đạo, ông thường xuyên đọc báo ''[[Le Monde]]'' và ''[[International Herald Tribune]]''.<ref>O'Donnell, p. 196. He is described as "by far the best-read head of state in Eastern Europe."</ref>
 
Ngày 7 tháng 4 năm 1939, Albania bị phát xít Ý xâm lược.<ref>Xem chú thích 1 tại trang 32 của Selected Works of Enver Hoxha: Volume I'' (Tirana: 8 Nëntori Publishing House) p. 32.</ref> Người Ý lập ra một chính phủ bù nhìn tại Albania dưới quyền [[Mustafa Kruja|Mustafa Merlika-Kruja]].<ref>See page 34 and also note 2 on page 35 of the ''Selected Works of Enver Hoxha: Volume I''.</ref> Hoxha đã bị sa thải khỏi công việc giáo viên sau cuộc xâm lược của người Ý do từ chối tham gia [[Đảng Phát xít Albania]].<ref>John E. Jessup, ''An Encyclopaedic Dictionary of Conflict and Conflict Resolution, 1945–1996''. Westport, CT: Greenwood Press. 1998. p. 288. "At the time of the Italian invasion of Albania, he was fired for refusing to join the Albanian Fascist Party and became a tobacconist in the capital city, Tirana."</ref> Ông đã mở một cửa hàng bán thuốc lá tại [[Tirana]] mang tên Flora, ngay sau đó một nhóm cộng sản nhỏ đã bắt đầu tụ họp tại đây. Cuối cùng chính phủ đã trấn áp nhóm này.<ref>''The Albanians: An Ethnographic History from Prehistoric Times to the Present'' Vol. II, Edwin E. Jacques, North Carolina 1995, p. 416.</ref>
 
===Cuộc sống Du kích===
[[Tập tin:Hoxha at Odrican 1944.jpg|nhỏ|250px|Chiến sĩ du kích Hoxha.]]
Ngày 8 tháng 11 năm 1941, Đảng Cộng sản Albania (sau đổi tên thành [[Đảng Lao động Albania]] vào năm 1948) được thành lập. Hai phái viên Nam Tư đã lựa chọn Hoxha từ "nhóm Korca" với địa vị một đại diện Hồi giáo làm một trong bảy thành viên của Ủy ban Trung ương lâm thời. Từ 8 tháng 4 đến 11 tháng 4 năm 1942, Hội nghị tham vấn đầu tiên của Những nhà hoạt động của Đảng Cộng sản Albania đã được tổ chức tại Tirana.<ref>Xem chú thích 1 tại trang 3 của ''Selected Works of Enver Hoxha: Volume I'' (Tirana: 8 Nentori Publishing House, 1974) p. 3.</ref> Enver Hoxha được giao thực hiện bản báo cáo chính cho các đại biểu tụ họp vào ngày 8 tháng 4 năm 1942.<ref>Enver Hoxha, "Report Delivered to the 1st Consultative Meeting of the Activists of the Communist Party of Albania" contained in the ''Selected Works of Enver Hoxha: Volume I'', pp. 3-30.</ref>
 
Vào tháng 7 năm 1942, Enver Hoxha đã viết "Lời kêu gọi đến giai cấp nông dân Albania" và cho lưu hành dưới tên Đảng Cộng sản Albania.<ref>Enver Hoxha, "Call to the Albanian Peasantry" contained in the ''Sellected Works of Enver Hoxha: Volume I'', pp. 31-38.</ref> Lời kêu gọi được đưa ra để tranh thủ sự ủng hộ tại Albania cho cuộc kháng chiến chống lại những kẻ xâm lược phát xít Ý. Những người nông dân được khuyến khích giữ lại ngũ cốc của họ, từ chối chi trả bất cứ khoản thuế hay phí chăn nuôi nào cho chính quyền phát xít Albania.<ref>Enver Hoxha, "Call to the Albanian Peasantry" contained in the ''Selected Works of Enver Hoxha: Volume I'', p. 36.</ref> Sau Hội nghị tháng 12 năm 1942 tại [[Pezë]], [[Mặt trận Giải phóng Dân tộc Albania|Mặt trận Giải phóng Dân tộc]] được thành lập với mục đích thống nhất những người Albania chống phát xít, bất kể ý thức hệ hay tầng lớp.
 
Tháng 3 năm 1943, Hội nghị Quốc gia đầu tiên của Đảng Cộng sản Albania đã bầu Hoxha làm [[Tổng Bí thư|Bí thư thứ nhất]]. Trong chiến tranh, vai trò của [[Liên Xô]] tại Albania là không đáng kể, khiến Albania trở thành nước duy nhất bị chiếm đóng trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai|Thế chiến II]] giành được độc lập mà không dựa trên định đoạt của cường quốc.<ref>[http://query.nytimes.com/gst/fullpage.html?res=9E06E4D61F38F93BA15757C0A963948260 Of Enver Hoxha And Major Ivanov, ''New York Times'', 28 April 1985]</ref> Ngày 10 tháng 7 năm 1943, các nhóm du kích Albania đã tổ chức thành các đơn vị đại đội, tiểu đoàn và lữ đoàn chính quy với tên gọi Quân đội Giải phóng Dân tộc Albania. Tổ chức này nhận được hỗ trợ quân sự từ cơ quan tình báo Anh, [[MI6|SOE]].<ref>Bernd J Fischer. “Resistance in Albania during the Second World War: Partisans, Nationalists and the S.O.E.”, ''East European Quarterly'' 25 (1991)</ref> Tổng bộ được thiết lập với [[Spiro Moisiu]] là chỉ huy còn Enver Hoxha là chính ủy. Các du kích cộng sản tại [[Nam Tư]] đã có một vai trò lớn trên thực tế, họ giúp đỡ trong các cuộc tấn công và trao đổi vật tư, song thông tin liên lạc giữa họ và người Albania bị hạn chế và các thư tín thường đến muộn, đôi khi một kế hoạch đã được Quân Giải phóng Dân tộc Albania phê chuẩn mà chưa tham khảo được ý kiến từ du kích Nam Tư.
 
==== Bất đồng với những người cộng sản Nam Tư ====
Tuy nhiên, có một vấn đề đã nảy sinh khi những người cộng sản Nam Tư không đồng ý với mục tiêu Đại Albania và yêu cầu những người cộng sản Albania thu hồi ý định của họ. Theo Hoxha, [[Josip Broz Tito]] đã đồng ý rằng "Kosovo là của người Albani" song do sự chống đối của [[người Serbia]] nên việc thực hiện chuyển giao phải chọn lựa một cách khôn ngoan.<ref>Nora Beloff, ''Tito's Flawed Legacy'' (Boulder: Westview Press, 1985), 192.</ref> Sau khi những người cộng sản Albania từ bỏ tư tưởng Đại Albania, Balli Kombëtar đã chỉ trích những người cộng sản, những người đã cáo buộc Balli Kombëtar đứng bên cạnh người Ý. Tuy nhiên, Balli Kombëtar thiếu sự ủng hộ của người dân. Sau khi đánh giá những người cộng sản là một mối đe dọa trực tiếp cho đất nước, Balli Kombëtar đã đứng cạnh [[Đức Quốc Xã]], gây tổn hại chết người cho hình ảnh của họ đối với những người đấu tranh chống phát xít. Những người cộng sản nhanh chóng bổ sung vào hàng ngũ của mình những người thất vọng với Balli Kombëtar và nắm lấy vai trò trung tâm trong cuộc đấu tranh giải phóng.<ref>O'Donnell, pp. 10–11. Jacques, pp. 421–423.</ref>
 
Đại hội Quốc gia Permet đã được tổ chức trong thời điểm đó đã kêu gọi về một "Albania dân chủ mới cho người dân." Vua Zog đã bị cấm không bao giờ được thăm lại Albania, và quyền kiểm soát của cộng sản được tăng cường. Ủy ban chống Phát xít vì Giải phóng Dân tộc đã được thành lập, với chủ tịch là Hoxha. Ngày 22 tháng 10, Ủy ban trở thành [[Chính phủ Dân chủ Albania]] sau cuộc họp tại [[Berat]] và Hoxha được lựa chọn làm Thủ tướng của chính phủ lâm thời. Các tòa án được thiết lập để cố gắng tuyên bố các tội phạm chiến tranh, những người bị định là "[[kẻ thù của nhân dân]]"<ref>O'Donnell, p. 12.</ref> và do [[Koçi Xoxe]] chủ trì.
==Thời kỳ đầu lãnh đạo (1946-65)==
[[Tập tin:Members of the First Democratic Government of Albania.jpg|nhỏ|250px|Hoxha cùng với các thành viên của Chính phủ Dân chủ Lâm thời Albania.]]
Hoxha tuyên bố mình là người [[chủ nghĩa Marx-Lenin|Marxist-Leninist]] và rất thán phục nhà lãnh đạo Liên Xô [[Iosif Vissarionovich Stalin|Joseph Stalin]]. Trong giai đoạn 1945–1950, chính phủ Albania đã thông qua các chính sách nhằm củng cố quyền lực. Luật cải cách ruộng đất đã được thông qua vào tháng 8 năm 1945. Theo luật này, chính phủ sẽ tịch thu đất đai của các [[bey]] và các [[địa chủ]] lớn mà không bồi thường và trao lại nó cho nông dân. 52% toàn bộ đất đai tại Albania do các địa chủ lớn sở hữu trước khi thông quan luật; con số này giảm xuống còn 16% sau khi thông qua luật.<ref>Ramadan Marmullaku, ''Albania and the Albanians'', trans. Margot and Bosko Milosavljević (Hamden, Connecticut: Archon Books, 1975, 93–94.</ref> Về tỷ lệ mù chữ, con số 90–95% tại các vùng nông thôn vào năm 1939 đã giảm xuống còn 30% vào năm 1950 và đến năm 1985 thì con số này đã ngang bằng với các nước phương Tây.<ref>[http://lcweb2.loc.gov/cgi-bin/query/r?frd/cstdy:@field(DOCID+al0059) Library of Congress Country Studies ]</ref>
 
[[Đại học Tirana|Đại học Nhà nước Tirana]] được thành lập vào năm 1957, đây là trường đại học đầu tiên ở Albania. Các [[Gjakmarrja]] (mối thù máu) từ thời [[Trung Cổ]] bị cấm. [[Sốt rét]] là bệnh phổ biến nhất tại Albania,<ref>Gjonça, Arjan. ''Communism, Health, and Lifestyle: The Paradox of Mortality Transition in Albania, 1950–1990''. Connecticut: Greenwood Press, 2001., p. 15. "20.1% of the population was infected."</ref> song chính phủ cộng sản đã thành công trong cuộc chiến nhằm chăm sóc sức khỏe của người dân, họ đã sử dụng [[DDT]], và tiêu thoát các bãi lầy. Năm 1985, không còn thấy một trường hợp nào bị sốt rét trong khi hai mươi năm trước thì Albania là nước có số người mắc bệnh này nhiều nhất tại châu Âu.<ref name="Cikuli, p. 33">Cikuli, ''Health Care in the People's Republic of Albania'', p. 33.</ref> Cũng không ghi nhận trường hợp nào bị bệnh [[giang mai]] trong 30 năm.<ref name="Cikuli, p. 33"/> Đối với sự phân chia Gheg-Tosk, các sách được biết bằng phương ngữ Tosk, và phần lớn đảng viên đến từ miền nam Albania, tức nơi nói phương ngữ Tosk.
Các thành viên chống Nam Tư trong Đảng Cộng sản Albania bắt đầu nghĩ rằng đây là một âm mưu của Tito nhằm gây bất ổn cho Đảng. [[Koçi Xoxe]], [[Sejfulla Malëshova]] và những người ủng hộ Nam Tư khác bị nghi ngờ sâu sắc. Quan điểm của Tito đối với Albania là nước này quá yếu để có thể đứng riêng và tốt hơn là trở thành một phần của Nam Tư. Hoxha cáo buộc rằng Tito làm vậy để nhằm đưa Albania vào thành phần Nam Tư, đầu tiên là lập ra Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Hỗ trợ lẫn nhau vào năm 1946. Trong thời gian đó, Albania bắt đầu cảm thấy rằng hiệp ước đã nghiêng về phía lợi ích của Nam Tư, giống như các thỏa thuận giữa Ý và Albania dưới thời vua Zog, khiến đất nước phụ thuộc vào Ý.<ref name="O'Donnell, p. 19"/>
 
Vấn đề đầu tiên là đồng [[lek Albania]] được định giá lại theo đồng [[dinar Nam Tư]] khi một [[hội nhập kinh tế#Liên minh thuế quan|liên minh thuế quan]] dược hình thành và kế hoạch kinh tế của Albania được Nam Tư quyết định.<ref>See Nicholas C. Pano, ''The People's Republic of Albania'' (Baltimore: The Johns Hopkins Press, 1968), 101.</ref> Các nhà kinh tế học Albania là H. Banja và V. Toçi đã nói rằng mối quan hệ giữa Albania và Nam Tư trong giai đoạn này mang tính bóc lột và rằng nó được Nam Tư nỗ lực tạo ra nhằm biến kinh tế Albania trở thành một "phần phụ thuộc" của kinh tế Nam Tư.<ref>H. Banja and V. Toçi, ''Socialist Albania on the Road to Industrialization'' (Tirana: 8 Nëntori Publishing House, 1979), 66. "...Albania didn't need to create its national industry, but should limit her production to agricultural and mineral raw materials, which were to be sent for industrial processing to Yugoslavia. In other words, they wanted the Albanian economy to be a mere appendage of the Yugoslav economy."</ref>
 
[[Iosif Vissarionovich Stalin|Joseph Stalin]] đã gửi lời khuyên cho Hoxha và phát biểu rằng Nam Tư đang cố gắng để sáp nhập Albania. "Chúng tôi đã không biết rằng người Nam Tư, dưới cái cớ 'bảo vệ' đất nước của các bạn chống lại một cuộc tấn công từ những kẻ phát xít Hy Lạp, lại muốn đưa các đơn vị trong quân đội của họ đến Cộng hòa Nhân dân Albania. Họ đã cố gắng để làm điều này một cách rất bí mật. Trong thực tế, mục đích của họ trên phương diện này là hoàn toàn thù địch, vì họ có ý định đảo lộn tình hình ở Albania."<ref>Enver Hoxha, ''With Stalin'' (Tirana: 8 Nëntori Publishing House, 1979, 92.</ref> Tháng 6 năm 1947, Ủy ban TW của Nam Tư bắt đầu công khai lên án Hoxha, cáo buộc ông đã biểu lộ tinh thần chủ nghĩa cá nhân và chống Marxist. Khi Albania đáp trả bằng việc thiết lập các thỏa thuận với Liên Xô để mua máy móc nông nghiệp, Nam Tư đã nói rằng Albania không thể tham gia vào bất kỳ thỏa thuận nào với các nước khác mà không có sự tán thành của Nam Tư.<ref name="O'Donnell, p. 22">O'Donnell, p. 22.</ref>
 
[[Koçi Xoxe]] đã cố gắng ngăn Hoxha cải thiện quan hệ với [[Cộng hòa Nhân dân Bulgaria|Bulgaria]], lập luận rằng Albania sẽ ổn định hơn khi có một đối tác thương mại thay vì nhiều đối tác. Nako Spiru, một thành viên chống Nam Tư trong Đảng, thì lại lên án Xoxe. Do không ai bênh vực lời của Spiru, ông ta cho rằng tình hình đã trở nên vô vọng và sợ rằng sự thống trị của Nam Tư đối với đất nước mình sắp xảy đến, vì thế ông ta đã tự vẫn vào tháng 11.<ref name="O'Donnell, p. 22"/>
 
Tại Hội nghị lần thứ 8 của Ủy ban Trương ương Đảng, kéo dài từ 26 tháng 2 – 8 tháng 3 năm 1948, Xoxe đã dính líu đến một âm mưu nhằm cô lập Hoxha và củng cố sức mạnh của mình [Xoxe]. Ông ta đã cáo buộc Hoxha phải chịu trách nhiệm cho tình trạng suy sụy trong quan hệ với Nam Tư, và nói rằng nên trục xuất một phái đoàn quân sự Liên Xô để tỏ thiện ý với Nam Tư. Hoxha đã điều hành thế sự để giữ vững vị thế của mình. Khi Nam Tư công khai tuyệt giao với Liên Xô, cơ sở ủng hộ của Hoxha đã trở nên mạnh hơn. Sau đó, vào ngày 1 tháng 7 năm 1948, Tirana đã lệnh cho tất cả các cố vấn kỹ thuật Nam Tư rời khỏi Albania và đơn phương tuyên bố rằng tất cả các hiệp định và thỏa thuận giữ hai nước là vô hiệu và không có giá trị. Xoxe bị trục xuất ra khỏi đảng vào ngày 13 tháng 6 năm 1949, ông ta đã bị một đội bắn xử tử.<ref>Jacques, p. 467.</ref>
 
===Quan hệ với Liên Xô===
Sau khi tuyệt giao với Nam Tư, Hoxha tự gắn kết Albania với Liên Xô, nước mà ông hết sức khâm phục. Trong giai đoạn 1948–1960, 200&nbsp;triệu Đô la Mỹ viện trợ của Liên Xô đã được trao cho Albania để mở rộng công nghệ và cơ sở hạ tầng. Ngày 22 tháng 2 năm 1949, Albania đã được tiếp nhận vào [[Hội đồng Tương trợ Kinh tế|Comecon]] và Albania trở thành một quân cờ để Liên Xô gây sức ép lên Nam Tư và cũng đóng vai trò là một thế lực thân Xô tại [[biển Adriatic]]. Một căn cứ tàu ngầm đã được xây dựng trên đảo [[Sazan]] gần [[Vlorë]], đặt ra một mối đe dọa đối với [[Đệ lục Hạm đội Hoa Kỳ|Hạm đội 6]] của Hoa Kỳ. Mối quan hệ giữa hai bên tiếp tục duy trì sự gần gũi cho đến cái chết của Stalin vào ngày 5 tháng 3 năm 1953. Albania đã tổ chức quốc tang nhằm tưởng nhớ Stalin. Hoxha tập hợp toàn bộ dân chúng tại quảng trường lớn nhất ở thủ đô, yêu cầu họ quỳ, và bắt họ thực hiện lời tuyên thệ hai nghìn từ với nội dung "trung thành vĩnh viễn" và "lòng biết ơn" với "người cha thân yêu" và "nhà giải phóng vĩ đại", đến người mà người dân nợ "mọi thứ."<ref>''The Economist'' 179 (16 June 1956): 110.</ref>
 
Dưới thời [[Nikita Sergeyevich Khrushchyov|Nikita Khrushchev]], người kế nhiệm Stalin, viện trợ bị cắt giảm và Albania dược khuyến khích áp dụng chính sách chuyên môn hóa của Khrushchev. Dưới chính sách này, Albania sẽ phát triển sản xuất nông nghiệp để cung cấp cho Liên Xô và các nước khác trong [[khối Warszawa]] trong khi các nước này sẽ phát triển các ngành sản xuất đặc trưng của họ, mà về lý thuyết sẽ tăng cường khối Warszawa bằng cách giúp giảm thiếu sự thiếu hụt một số nguồn tài nguyên mà nhiều nước trong khối phải đối mặt. Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa rằng phát triển công nghiệp của Albania, lĩnh vực đã được Hoxha đặc biệt nhấn mạnh, sẽ bị suy giảm đáng kể.<ref>On the "socialist division of labor" see: [http://germanhistorydocs.ghi-dc.org/sub_document.cfm?document_id=1163 The International Socialist Division of Labor (7 June 1962)], German History in Documents and Images.</ref>
 
==== Hướng đến Trung Quốc và chủ nghĩa Mao ====
Hoxha đã kêu gọi về nghị quyết mà theo đó ủng hộ người lãnh đạo hiện tại của Đảng. Nghị quyết được chấp thuận, và toàn bộ các đại biểu từng lên tiếng đều bị trục xuất khỏi đảng và bị cầm tù. Hoxha đã nói rằng đây là một trong nhiều nỗ lực nhằm lật đổ người lãnh đạo của Albania do Nam Tư tổ chức. Sự cố này tiếp tục củng cố quyền lực của Hoxha, khiến cho việc thực hiện cải cách theo kiểu Khrushchev gần như không thể xảy ra. Trong cùng năm đó, Hoxha đến thăm [[Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa]] và gặp gỡ [[Mao Trạch Đông]]. Mối quan hệ giữa Albania với Trung Quốc được cải thiện, bằng chứng là viện trợ của Trung Quốc cho Albania chiếm 4,2% vào năm 1955, và tăng lên 21,6% vào năm 1957.<ref>Elez Biberaj, ''Albania and China'' (Boulder: Westview Press, 1986), p. 27.</ref>
 
Trong một nỗ lực để giữ Albania trong tầm ảnh hưởng của mình, Liên Xô đã tăng viện trợ song lãnh đạo Albania vẫn tiếp tục tiến gần hơn đến Trung Quốc. Mối quan hệ với Liên Xô vẫn duy trì mức độ như trước đó cho đến năm 1960, khi Khrushchev gặp [[Sophocles Venizelos]], một chính trị gia cánh tả [[Hy Lạp]]. Khrushchev tỏ ra thông cảm với ý tưởng về một vùng [[Bắc Epirus]] tự trị của người Hy Lạp và hy vọng sử dụng các tuyên bố của Hy Lạp để khiến cho giới lãnh đạo Albania hành động phù hợp với lợi ích của Liên Xô.<ref>O'Donnell, p. 46.</ref>
Quan hệ với Liên Xô bắt đầu xuống dốc nhanh chóng. Một chính sách cứng rắn đã được áp dụng và Liên Xô đã cắt giảm các chuyến hàng viện trợ, đặc biệt là ngũ cốc, vào lúc Albania cần chúng để ứng phó với [[nạn đói]] do lũ lụt. Tháng 7 năm 1960, một âm mưu nhằm lật đổ chính phủ đã được phát hiện. Âm mưu này do một Thiếu tướng hải quân được đào tạo tại Liên Xô là [[Teme Sejko]] tổ chức. Sau đó, hai thành viên thân Liên Xô trong Đảng là Liri Belishova và Koço Tashko đề bị trục xuất, với một sự cố hài hước liên quan đến việc phát âm tên Tashko thành (tiếng Nga của "[[chấm hết]]").<ref>''Albania Challenges Khrushchev Revisionism'' (New York: Gamma Publishing, 1976), 109–110n. Enver Hoxha stated: "This ridiculous action of Koço Tashko made it quite evident that the text of his contribution had been dictated by an official of the Soviet Embassy and during the translation he had become confused, failing to distinguish between the text and the punctuation marks."</ref>
 
Vào tháng 8, Ủy ban Trung ương Đảng Albania đã gửi một bức thư phản đối cho Ủy ban Trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô, nêu rõ sự không hài lòng của việc có một Đại sứ Liên Xô chống Albania tại Tirana. Đại hội IV của Đảng Lao động Albania được tổ chức từ ngày 13–20 tháng 2 năm 1961 là cuộc họp cuối cùng mà đại biểu của Liên Xô và các nước Đông Âu khác có thể tham dự tại Albania. Trong đại hội, Liên Xô đã bị lên án trong khi Trung Quốc thì được tán dương. [[Mehmet Shehu]] nói rằng trong khi nhiều thành viên trong Đảng đã bị cáo buộc [[bạo chúa|chuyên quyền]], đây là một lời buộc tội vô căn cứ và không giống như Liên Xô, Albania là nước Marxist chính cống.
 
Liên Xô trả đũa bằng cách đe dọa sẽ có "hậu quả tàn khốc" nếu những lời lên án không được rút lại. Những ngày sau đó, Khrushchev và [[Antonín Novotný]], Chủ tịch của [[Tiệp Khắc]] (là nguồn viện trợ lớn nhất cho Albania sau Liên Xô) đã đe dọa cắt viện trợ kinh tế. Trong tháng 3, Albania không được mời tham dự cuộc họp của các nước khối Warszawa (trong khi Albania là một trong các thành viên sáng lập năm 1955) và đến tháng 4, tất cả các kỹ thuật viên Liên Xô đã rút khỏi Albania. Trong tháng 5, gần như toàn bộ quân Liên Xô tại căn cứ trên biển Oricum đã rút lui, để lại cho người Albania 4 tàu ngầm và các thiết bị quân sự khác.
Khi Hoxha tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo, ông ngày càng có quan điểm mang tính [[lý thuyết]]. Ông đã viết bài chỉ trích dựa trên các sự kiện đương thời và dựa trên lý thuyết; đáng chú ý nhất là những lời lên án của ông đối với [[chủ nghĩa Mao Trạch Đông]] sau năm 1978.<ref>[http://marxists.org/reference/archive/hoxha/works/imp_rev/toc.htm Imperialism and the Revolution (1978), Hoxha's work condemning Maoism]</ref> Một thành tự lớn dưới thời Hoxha là sự tiến bộ của nữ quyền. Albania từng là một trong những quốc gia có tính [[gia trưởng]] nhất, nếu không muốn nói là nhất, tại châu Âu. ''[[Kanun|Bộ luật Lekë]]'', thứ quy định địa vị của phụ, viết rằng, "Một người đàn bà được biết đến như một bao tải, để chịu đựng miễn là khi cô ta sống ở nhà chồng."<ref>''Kanuni i Lekë Dukagjinit'' [The Code of Lekë Dukagjini] (Prishtinë, Kosove: Rilindja, 1972): bk. 3, chap. 5, no. 29, 38.</ref> Phụ nữ không được thừa kế bất cứ thứ gì từ cha mẹ và bị phân biệt đối xử.
 
Trong [[Chiến tranh thế giới thứ hai]], quân cộng sản Albania đã khuyến khích phụ nữ tham gia vào hoạt động du kích<ref>Harilla Papajorgi, ''Our Friends Ask'' (Tirana: The Naim Frashëri Publishing House, 1970), 130.</ref> và sau chiến tranh, phụ nữ được khuyến khích đảm nhiệm các công việc tầm thường, bởi nếu muốn làm những công việc ở mức độ cao hơn thì họ cần phải có giáo dục mà điều này thì vượt khỏi tầm với của hầu hết phụ nữ. Năm 1938, phụ nữ chiếm 4% lao động tại các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Năm 1970, con số này đã tăng lên 38% và đến năm 1982 là 46%.<ref>Ksanthipi Begeja, ''The Family in the People's Socialist Republic of Albania'', (Tirana: 8 Nëntori Publishing House, 1984), 61.</ref>
 
Trong Cách mạnh Văn hóa và Tư tưởng, phụ nữ được khuyến khích để đảm nhiệm "tất cả" các công việc, bao gồm các chức vụ trong chính phủ, dẫn tới kết quả là 40,7% đại biểu ở các Hội đồng Nhân dân và 30,4% đại biểu của Hội nghị Nhân dân là phụ nữ, bao gồm cả hai phụ nữ trong Ủy ban Trung ương vào năm 1985.<ref>Jacques, p. 557.</ref> Năm 1978, số phụ nữ tiếp nhận giáo dục 8 năm cao gấp 15,1 lần so với năm 1938 và số phụ nữ học trung học gấp 175,7 con số năm 1938. Năm 1978, số phụ nữ tiếp nhận giáo dục đại học cao gấp 101,9 lần so với năm 1957.<ref>The Directorate of Statistics at the State Planning Commission, ''35 Years of Socialist Albania'' (Tirana: 8 Nëntori Publishing House, 1981), 129.</ref>
 
=== Quan hệ với Trung Quốc===
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 3 của Albania, Trung Quốc đã hứa hẹn về một khoản vay trị giá 125&nbsp;triệu Đô la Mỹ để Albania xây dựng 25 nhà máy hóa chất, điện và luyện kim được đề cập đến trong Kế hoạch. Tuy nhiên, quốc gia này đã có một giai đoạn chuyển tiếp khó khăn, do các kỹ thuật viên Trung Quốc có chất lượng thấp hơn các kỹ thuật viên Liên Xô và khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia, cộng với các mối quan hệ tồi giữa Albania và các nước láng giềng, các vấn đề trở nên phức tạp hơn. Không giống như Nam Tư hay Liên Xô, Trung Quốc đã có ảnh hưởng rất nhỏ trên phương diện kinh tế đối với Albania dưới thời Hoxha. 15 năm trước đó (1946–1961), có ít nhất 50% kinh tế Albania dựa trên thương mại nước ngoài.<ref>Elez Biberaj, ''Albania and China'' (Boulder: Westview Press, 1986), 40.</ref>
 
Do Hiến pháp 1976 nghiêm cấm nợ, viện trợ và đầu tư nước ngoài, Albania về cơ bản trở thành nước [[tự cung tự cấp]], bất chấp việc nước này thiếu các công nghệ hiện đại. Về mặt ý thức hệ, Hoxha nhận thấy quan điểm ban đầu của [[Mao Trạch Đông]] phù hợp với [[chủ nghĩa Marx-Lenin]]. Mao Trạch Đông lên án chủ nghĩa [[xét lại (chủ nghĩa Marx)|xét lại]] của [[Nikita Sergeyevich Khrushchyov|Nikita Khrushchev]] và đồng thời cũng chỉ trích Nam Tư. Viện trợ đến từ Trung Quốc không tính lãi và không phải hoàn trả cho đến khi Albania có đủ khả năng để làm như vậy.<ref name="Hamm, 45">Hamm, 45.</ref>
}}
 
Giống như Albania, Trung Quốc bảo vệ "tinh khiết" của chủ nghĩa Marx bằng cách tấn công cả "[[đế quốc Mỹ]]" cũng như "xét lại Liên Xô và Nam Tư", cả hai đều là một phần của thuyết "kẻ thù kép".<ref name="O'Donnell, p. 68">O'Donnell, p. 68.</ref> Nam Tư được nhìn nhận là một "biệt đội của chủ nghĩa đế quốc Mỹ" và là một "kẻ phá hoại chống lại cách mạng thế giới."<ref name="O'Donnell, p. 68"/> Tuy nhiên, các nhìn nhận này đã bắt đầu thay đổi tại Trung Quốc, một trong những vấn đề chính mà Albania gặp phải trong liên minh này.<ref>Biberaj, 49.</ref> Cũng không giống với Nam Tư và Liên Xô, liên minh Trung Quốc-Albania thiếu "...một cơ cấu tổ chức để tham vấn thường xuyên và phối hợp chính sách, và có điểm đặc trưng là một mối quan hệ không chính thức được kiểm soát dựa trên một cơ sở ''đặc biệt''." Mao Trạch Đông đã có một bài phát biểu vào ngày 3 tháng 11 năm 1966, trong đó tuyên bố rằng Albania là nhà nước Marxist-Leninist duy nhất ở châu Âu và "một cuộc tấn công vào Albania sẽ cần phải tính đến nhân dân Trung Quốc vĩ đại. Nếu đế quốc Mỹ, xét lại Liên Xô hiện nay hay bất kỳ tay sai nào của họ dám động vào Albania dù là nhỏ nhất, sẽ không có gì ở phía trước giành cho họ mà chỉ có một thất bại hoàn toàn, đáng xấu hổ và đáng nhớ."<ref>Hamm, 43.</ref> Tương tự, Hoxha nói rằng "Các bạn có thể yên tâm, những người đồng chí, đến những gì có thể trong thế giới rộng lớn, hai đảng của chúng ta và hai dân tộc chúng ta chắc chắn sẽ sát cánh bên nhau. Chúng ta sẽ chiến đấu cùng nhau và chúng ta sẽ giành chiến thắng."<ref>Biberaj, 58.</ref>
 
Trong giai đoạn bốn năm sau [[Cách mạng văn hóa|Cách mạng Văn hóa]], Trung Quốc ở trong tình trạng tương đối cô lập về ngoại giao, mối quan hệ giữa Trung Quốc-Albania đã lên tới đỉnh cao trong giai đoạn này. Ngày 20 tháng 8 năm 1968, Albania đã lên án việc [[Khối Hiệp ước Warsaw tấn công Tiệp Khắc|Liên Xô xâm chiếm Tiệp Khắc]]. Albania sau đó đã chính thức ra khỏi khối Warszawa vào ngày 5 tháng 9. Mối quan hệ với Trung Quốc bắt đầu xấu đi vào ngày 15 tháng 7 năm 1971, khi Tổng thống Hoa Kỳ [[Richard Nixon]] sang thăm Trung Quốc để hội đàm với Chu Ân Lai. Hoxha cảm thấy mình bị phản bội và chính quyền của ông ở trong tình trạng bất ngờ. Ngày 6 tháng 8, Ủy ban Trung ương của Đảng Lao động Albania đã gửi một bức thư cho Ủy ban Trung ương của [[Đảng Cộng sản Trung Quốc]], trong đó gọi Nixon là một "kẻ chống cộng điên cuồng."
===Nhân quyền===
[[Tập tin:HODŽA druhá míza.jpg|nhỏ|250px|Enver Hoxha năm 1971.]]
Một số điều khoản trong hiến pháp năm 1976 trên thực tế đã hạn chế việc thực hiện các quyền tự do chính trị.<ref>O'Donnell, p. 129.</ref> Thêm vào đó, chính phủ từ chối cho người dân tiếp cận các thông tin khác ngoài những thứ đã được các phương tiện truyền thông chính phủ kiểm soát. Về đối nội, [[Sigurimi]] cũng thực thiện theo các phương pháp đàn áp của [[NKVD]], [[MGB]], [[KGB]], và [[Stasi]] của [[Cộng hòa Dân chủ Đức|Đông Đức]]. "Các hoạt động của nó lan tỏa khắp xã hội Albania đến mức mọi công dân hạng ba đều đã có thời gian bị gửi đến các trại lao động hoặc bị các sĩ quan Sigurimi thẩm vấn."<ref>Raymond E. Zickel & Walter R. Iwaskiw. ''Albania: A Country Study''. Washington, D.C.: Federal Research Division of the United States Library of Congress. p. 235.</ref>
 
Để loại bỏ bất đồng chính kiến, chính phủ đã bỏ tù hàng nghìn người trong các trại lao động cải tạo hoặc xử tử họ với các tội danh như phản bội hoặc chống phá [[chuyên chính vô sản]]. Việc đi ra nước ngoài bị cấm từ sau năm 1968, trừ những người có nhiệm vụ chính thức. Văn hóa Tây Âu được nhìn nhận với sự ngờ vực sâu sắc, kết quả là các vụ bắt giữ và lệnh cấm các tài liệu nước ngoài trái phép.<ref>[http://news.bbc.co.uk/2/hi/programmes/from_our_own_correspondent/4379499.stm Dance fever reaches Albania] "The former student, now the mayor of Tirana, said that he would cower beneath the bedclothes at night listening to foreign radio stations, an activity punishable by a long stretch in a labour camp. He became fascinated by the saxophone. Yet, as such instruments were considered to be an evil influence and were banned, he had never seen one. "</ref> Nghệ thuật Albania khi đó được phát triển theo [[chủ nghĩa hiện thức xã hội chủ nghĩa]].<ref>Keefe, Eugene K. ''Area Handbook for Albania.'' Washington, D.C.: The American University (Foreign Area Studies), 1971.</ref> Việc để râu bị cấm do bị xem là không hợp vệ sinh và để hạn chế ảnh hưởng của [[Hồi giáo]] và [[Chính Thống giáo Đông phương|Chính Thống giáo]].
Enver Hoxha đã tuyên bố trong chiến dịch chống tôn giáo rằng "tôn giáo duy nhất của người Albania là chủ nghĩa Albania,"<ref>One World Divisible: A Global History Since 1945 (The Global Century Series) by David Reynolds, 2001, page 233: "... the country." Henceforth, Hoxha announced, the only religion would be "Albanianism. ..."</ref> một trích dẫn từ bài thơ ''[[O moj Shqypni]]'' ("O Albania") của nhà văn Albania thế kỉ 19 [[Pashko Vasa]]. Các nỗ lực tập trung vào vấn đề kết nối người [[người Illyria|Illyria]]-Albania<ref name="Michael L. Galary pages 8–17">[http://books.google.com/books?id=E0U104S4msoC&printsec=frontcover&dq=Archaeology+Under+Dictatorship%27&hl=el&cd=1#v=onepage&q=&f=false The practice of Archaeology under dictatorship, Michael L. Galary & Charles Watkinson, Chapter 1, pages 8–17,2]</ref> và chứng minh lịch sử [[Hy Lạp cổ đại]] là của người Albania.<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/>
 
Nguồn gốc Illyria của người Albania (không phủ nhận nguồn gốc ''[[người Pelasgia|Pelasgia]]''<ref name="schwandner2">Stephanie Schwandner-Sievers, Bernd Jürgen Fischer, Albanian Identities: Myth and History, Đại học Indiana Press, 2002, ISBN 978-0-253-34189-1, page 96, "but when Enver Hoxha declared that their origin was Illyrian (without denying their Pelasgian roots), no one dared participate in further discussion of the question".</ref>) tiếp tục đóng vai trò đáng kể trong chủ nghĩa dân tộc Albania,<ref>ISBN 960-210-279-9 Miranda Vickers, The Albanians Chapter 9. "Albania Isolates itself" page 196, "From time to time the state gave out lists with pagan, supposed Illyrian or newly constructed names that would be proper for the new generation of revolutionaries."</ref> kết quả là một sự hồi sinh những cái tên được cho là có nguồn gốc "Illyria", song chúng lại liên quan đến Kitô giáo. Đầu tiên, các nhà văn dân tộc chủ nghĩa Albania đã chọn người Pelasgia làm tổ tiên của người Albania, song dưới thời Enver Hoxha, người Pelasgia chỉ là một yếu tố thứ cấp<ref name="schwandner2"/> cho học thuyết Illyria về nguồn gốc của người Albania, nó cũng được một số ủng hộ từ các học giả.<ref>Madrugearu A, Gordon M. The wars of the Balkan peninsula. Rowman & Littlefield, 2007. p.146.</ref>
 
Thuyết nguồn gốc Illyria nhanh chóng trở thành một trong các trụ cột của chủ nghĩa dân tộc Albania, đặc biệt là bởi vì nó có thể cung cấp một số bằng chứng về sự hiện diện liên tục của người Albania cả tại Kosovo và ở miền nam Albania, tức là các khu vực xung đột sắc tộc giữa người Albania, người Serbia và người Hy Lạp.<ref>Stephanie Schwandner-Sievers, Bernd Jürgen Fischer, ''Albanian Identities: Myth and History'', Đại học Indiana Press, 2002, ISBN 978-0-253-34189-1, p. 118.</ref> Dưới thời chính quyền Enver Hoxha, một chủ nghĩa nhân chủng học bản địa<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/> đã được thúc đẩy và các nhà nhân chủng học<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/> đã cố gắng để chứng minh rằng người Albania khác biệt so với bất kỳ dân tộc Ấn-Âu nào khác, một thuyết mà nay đã bị bác bỏ.<ref>Belledi et al. (2000) [http://www.nature.com/ejhg/journal/v8/n7/pdf/5200443a.pdf Maternal and paternal lineages in Albania and the genetic structure of Indo-European populations]</ref> Những nhà khảo cổ học Albania thời cộng sản đã tuyên bố rằng<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/> các [[thành bang]], vị thần, tư tưởng, văn hóa và các nhân vật nổi bật của [[Hy Lạp cổ đại]] hoàn toàn là người Illyria (ví dụ như [[Pyrros của Ipiros]]<ref>Stephanie Schwandner-Sievers, Bernd Jürgen Fischer, Albanian Identities: Myth and History, Đại học Indiana Press, 2002, ISBN 978-0-253-34189-1, page 92.</ref> và vùng [[Epirus]]<ref>Epirus Vetus: The Archaeology of a Late Antique Province (Duckworth Archaeology) by William Bowden,2003,ISBN 0-7156-3116-0, page 32</ref>).
 
Họ tuyên bố rằng người Illyria là dân tộc cổ xưa nhất<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/><ref>The Balkans – a post-communist history by Robert Bideleux & Ian Jeffries, Routledge, 2007, ISBN 0-415-22962-6, page 23, "they thus claim to be the oldest indigenous people of the western Balkans".</ref> tại [[Balkan]] và đã mở rộng đáng kể thời kỳ của [[tiếng Illyria]].<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/><ref>The Balkans – a post-communist history by Robert Bideleux & Ian Jeffries, Routledge, 2007, ISBN 0-415-22962-6, page 26.</ref> Điều này vẫn tiếp tục tại Albania thời hậu cộng sản<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/> và truyền bá sang Kosovo.<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/><ref>The Balkans – a post-communist history by Robert Bideleux & Ian Jeffries, Routledge, 2007, ISBN 0-415-22962-6, page 513.</ref> Các thuyết dân tộc chủ nghĩa này vẫn còn lại hầu như nguyên vẹn cho đến ngày nay.<ref name="Michael L. Galary pages 8–17"/>
 
==Những năm cuối cùng==
Đại hội lần thứ 7 của Đảng Lao động Albania diễn ra từ ngày 1-7 tháng 11 năm 1976 đã quyết định một Hiến pháp mới. Theo Hoxha, "Hiến pháp cũ là Hiến pháp của việc xây dựng nền móng cho chủ nghĩa xã hội, trong khi Hiến pháp mới sẽ là Hiến pháp của việc xây dựng hoàn chỉnh một xã hội xã hội chủ nghĩa."<ref>Enver Hoxha, ''Report on the Activity of the Central Committee of the Party of Labour of Albania'' (Tirana: 8 Nëntori Publishing House, 1977), 12.</ref> Tự lực nay được nhấn mạnh hơn bao giờ hết. Các công dân được khuyến khích rèn luyện sử dụng các loại vũ khí, và hoạt động này cũng được giảng dạy trong trường học. Điều này là nhằm hình thành nên các du kích một cách nhanh chóng.<ref>[http://www.gadling.com/2008/06/26/letter-from-albania-enver-hoxhas-legacy-and-the-question-of-t/ Letter from Albania: Enver Hoxha's legacy, and the question of tourism]: "The bunkers were just one component of Hoxha's aim to arm the entire country against enemy invaders. Gun training used to be a part of school, I was told, and every family was expected to have a cache of weapons. Soon, Albania became awash in guns and other armaments{{spaced ndash}}and the country is still dealing with that today, not just in its reputation as a center for weapons trading but in its efforts to finally decommission huge stockpiles of ammunition as part of its new NATO obligations."</ref> Vay và đầu tư nước ngoài bị cấm theo Điều 26 trong Hiến pháp.<ref>Elez Biberaj, ''Albania and China'' (Boulder: Westview Press, 1986), 162n. See also [http://bjoerna.dk/dokumentation/Albanian-Constitution-1976.htm The Albanian Constitution of 1976]</ref>
 
{{Quote
Năm 1981, Hoxha đã ra lệnh xử tử một số quan chức trong đảng và chính phủ trong một cuộc thanh trừng mới. Thủ tướng [[Mehmet Shehu]] được tường thuật là đã tự sát vào tháng 12 năm 1981 và sau đó bị lên án như là một "kẻ phản bội" đối với Albania và ông ta cũng bị cáo buộc phục vụ cho nhiều cơ quan tình báo. Dư luận phổ biến tin rằng ông ta đã bị giết chết hoặc tự bắn vào mình trong một cuộc đấu tranh quyền lực hoặc do khác biệt trong chính sách đối ngoại với Hoxha.<ref>O'Donnell, pp. 198–201. Vickers, pp. 207–208. Jacques, pp. 510–512.</ref> Hoxha cũng viết một lượng lớn các cuốn sách trong giai đoạn này, kết quả là 65 tập tác phẩm sưu tầm, cô đặc lại thành sáu tuyển tập.<ref>[http://www.nytimes.com/1987/10/18/books/the-truest-believer.html?sec=&spon= NYtimes.com] "Hoxha, who died in 1985, was one of the most verbose statesmen of modern times and pressed more than 50 volumes of opinions, diaries and dogma on his long-suffering people, the poorest in Europe."</ref>
 
Sau đó, Hoxha bán nghỉ hưu do sức khỏe yếu, ông đã từng bị một cơn đau tim vào năm 1973 và từ đó ông đã không bao giờ hoàn toàn hồi phục. Ông trao lại hầu hết trách nhiệm của mình cho [[Ramiz Alia]]. Trong những ngày cuối cùng của mình, ông phải sử dụng xe lăn và đau đớn vì bệnh tiểu đường, căn bệnh mà ông đã phải chịu đựng kể từ năm 1948, và bệnh [[thiếu máu não]], căn bệnh ông phải chịu đựng từ năm 1983.<ref>Jacques, p. 520. "... there was a detailed medical report by a distinguished medical team. Enver Hoxha had suffered since 1948 with diabetes which gradually caused widespread damage to the blood vessels, heart, kidneys and certain other organs. In 1973 as a consequence of this damage a myocardial infarction occurred with rhythmic irregularity. During the following years a serious heart disorder developed. On the morning of 9 April 1985, an unexpected ventricular fibrillation occurred. Despite intensive medication, repeated fibrillation and its irreversible consequences in the brain and kidneys caused death at 2:15&nbsp;am on 11 April 1985."</ref>
 
Hoxha qua đời vào ngày 11 tháng 4 năm 1985, để lại cho Albania một di sản cô lập và nỗi sợ hãi với thế giới bên ngoài. Mặc dù có một số tiến bộ về kinh tế dưới thời Hoxha,<ref>O'Donnell, ''A Coming of Age'', p. 186. "On the positive side, an objective analysis must conclude that Enver Hoxha's plan to mobilize all of Albania's resources under the regimentation of a central plan was effective and quite successful... Albania was a tribal society, not necessarily primitive but certainly less developed than most. It had no industrial or working class tradition and no experience using modern production techniques. Thus, the results achieved, especially during the phases of initial planning and construction of the economic base were both impressive and positive."</ref> Albania trong tình trạng [[đình đốn kinh tế]]; đây là đất nước nghèo nhất châu Âu trong phần lớn thời gian [[Chiến tranh Lạnh]]. Sau khi Albania chuyển đổi sang thể chế dân chủ vào năm 1992, các di sản của Hoxha đã giảm bớt, và nay còn tồn tại rất ít ở Albania.
==Gia đình==
[[Tập tin:Enver and Nexhmije Hoxha in home library.jpg|nhỏ|phải|Enver Hoxha cùng phu nhân Nexhmije Hoxha]]
Họ ''Hoxha'' là biến thể Albania của [[Khawaja|Hodja]], một tước hiệu được ban cho tổ tiên ông vì những nỗ lực của họ trong việc giáng dạy [[Hồi giáo]] cho người Albania.<ref>[http://www.beepworld.de/members/pashtriku/dossier.htm "Ju Tregoj Pemën e Familjes të Enver Hoxhës," ''Tirana Observer'' 15 June 2007]</ref>
 
Cha mẹ của Enver Hoxha là Halil và Gjylihan (Gjylo) Hoxha, và bản thân ông có ba chị em gái tên là Fahrije, Haxhire và Sanije. [[Hysen Hoxha]] là người bác/chú của Enver Hoxha và là một chiến sĩ đã vận động mạnh mẽ cho nền độc lập của Albania, sự kiện xảy ra khi Enver mới được bốn tuổi. Ông nội Beqir của ông từng tham gia vào nhóm Gjirokastër của [[Liên minh Prizren]].<ref>* Pero Zlatar. ''Albanija u eri Envera Hoxhe'' Vol. II. Zagreb: Grafički zavod Hrvatske. 1984. pp. 23-24.</ref>