Khác biệt giữa các bản “Toán kinh tế”

n
clean up, replaced: → using AWB
n (văn phong, replaced: 1 vài → một vài using AWB)
n (clean up, replaced: → using AWB)
'''Toán kinh tế''' là môn khoa học nhằm vận dụng toán học trong phân tích các mô hình kinh tế để từ đó hiểu rõ hơn các nguyên tắc và các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường. '''Toán kinh tế''' cung cấp cho các Nhà Quản lý các kiến thức để họ có thể vận dụng vào việc ra các quyết định sản xuất.
 
'''Toán kinh tế''', gần đây hay được gọi là '''kinh tế học toán''', là một phân ngành của [[kinh tế học]] nghiên cứu việc áp dụng [[toán học]] và phát triển các kỹ thuật toán học để giải quyết các vấn đề kinh tế học. Tác phẩm ''Cơ sở phân tích kinh tế'' của [[Paul Samuelson]] công bố năm '''1947''' được xem là khởi đầu của toán kinh tế đương đại. Toán kinh tế còn được hiểu là phương pháp tiếp cận dưới hình thức toán học của khoa học kinh tế. Nó giúp kinh tế học diễn giải, trình bày được nhiều vấn đề mà phương pháp diễn giải bằng lời thông thường không có hiệu quả.
''Mô hình toán'' là một mô tả các hiện tượng bằng ngôn ngữ toán. Theo cách hiểu này thì chúng ta đã gặp rất nhiều mô hình toán như vậy ngay từ khi mới bắt đầu làm quen với môn toán. Có thể nêu ra đây một số ví dụ hết sức đơn giản. Xét bài toán sau "Một người đi từ A đến B với vận tốc 5km/h, hỏi thời gian cần thiết để tới B là bao nhiêu nếu quãng đường từ A đến B dài 10km". Các yếu tố được miêu tả trong bài toán là một hiện tượng. Để giải bài toán trên chúng ta diễn đạt theo ngôn ngữ toán như sau: "Gọi khoảng cách từ A đến B là s, vận tốc của người đó là v. Thời gian cần thiểt là đi từ A đến B là t. Khi đó ta có quan hệ sau: s = v x t". Quan hệ (phương trình) nhận được miêu tả chính xác hiện tượng nêu ra trong bài toán. Có thể gọi nó là một mô hình toán. Với mô hình nhận được ta không chỉ giải quyết một bài toán cụ thể mà có thể giải một lớp các bài toán khác nhau.
===Mô hình toán trong kinh tế===
Một câu hỏi có thể đặt ra là, nhưng hiện tượng nào có thể mô tả theo ngôn ngữ toán học?. Toán học có ứng dụng rất nhiều trong thực tế. Từ những vấn đề đơn giản như trong ví dụ trên đến phức tạp như các vấn đề trong tự nhiên, xã hội. Ở đây chúng ta đề cập đến các ứng dụng của toán học trong kinh tế. Một vấn đề đầu tiên trong kinh tế là quan hệ sản xuất, đây là mối liên hệ giữa chi phí và khối lượng sản phẩm tạo ra.
 
Quan hệ này chúng ta có thể miêu tả bằng một hàm số y = f(x), trong đó x là các nguyên liệu đầu vào, y là sản phẩm tạo ra.
* Lý thuyết Quản lý dự trữ.
==Tranh luận về sự cần thiết của toán kinh tế==
Có sự tranh luận về việc nên hay không nên sử dụng rộng rãi phương pháp toán trong kinh tế học. Những người phản đối phương pháp toán, nhất là [[Trường phái Áo]] cho rằng việc sử dụng các biện pháp rất kỹ thuật vào lĩnh vực khoa học xã hội như kinh tế học là không thể, cho dù là về nguyên tắc. Trái lại, những người ủng hộ cho rằng việc sử dụng phương pháp toán ra đời từ chính việc các nhà kinh tế thường hay giả định về cơ chế bên trong của việc ra quyết định kinh tế: các chủ thể kinh tế nói chung được giả định là (i) duy lý và (ii) ích kỷ, do đó suy luận và hành vi của chủ thể kinh tế có thể so sánh được với việc tính toán sử dụng các kỹ thuật logic và phân tích thực sự, bao gồm tối ưu hóa và các thủ tục toán cao cấp. Hành động duy lý là một khuôn khổ chính yếu của kinh tế học chính thống.
 
Mặc dù phương pháp toán của kinh tế học liên quan từ [[hình học]], đến [[đại số]] và các môn toán cao cấp hơn, song các phương pháp đại số hiện đại vẫn là một tiền đề cho cho toán kinh tế nói riêng và kinh tế học nói chung. Chẳng hạn, [http://www.nyu.edu/jet/ ''Tạp chí Lý luận Kinh tế''], một trong những tạp chí chuyên ngành hàng đầu trong khoa học kinh tế, là một sự tôn vinh phương pháp toán - mặc dù theo các biên tập viên của tạp chí này, thì đây là một tạp chí không chuyên.