Khác biệt giữa các bản “Đá hoa cương”

n
clean up, replaced: → (21) using AWB
n (→‎Vách đá giả: tên bài chính, replaced: Corsica → Corse using AWB)
n (clean up, replaced: → (21) using AWB)
 
Granit hầu hết có cấu tạo khối, cứng và xù xì, và được sử dụng rộng rãi làm đá xây dựng. Tỷ trọng riêng trung bình là 2.75 g/cm<sup>3</sup> độ nhớt ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn là ~4.5 • 10<sup>19</sup> Pa•s <ref>{{chú thích tạp chí
| last = Kumagai
| first = Naoichi
| coauthors = Sadao Sasajima, Hidebumi Ito
| title = Long-term Creep of Rocks: Results with Large Specimens Obtained in about 20 Years and Those with Small Specimens in about 3 Years
| journal = Journal of the Society of Materials Science (Japan)
| volume = 27
| issue = 293
| pages = 157–161
| publisher = Japan Energy Society
| url = http://translate.google.com/translate?hl=en&sl=ja&u=http://ci.nii.ac.jp/naid/110002299397/&sa=X&oi=translate&resnum=4&ct=result&prev=/search%3Fq%3DIto%2BHidebumi%26hl%3Den
| date = 15 February 1978
| accessdate = 2008-06-16}}</ref>
. Granit xuất phát từ tiếng [[Latinh]] là ''granum'', nghĩa là hạt để nói đến cấu trúc hạt thô của đá kết tinh.
 
 
== Phân bố ==
[[Tập tin:Stawamus Chief South Peak 2.JPG|nhỏ|[[Stawamus Chief]] là granit [[monolith]] ở British Columbia]]
Granit được biết như là loại đá cấu tạo nên phần lớn [[vỏ lục địa]] của Trái Đất. Granit thường xuất hiện ở dạng khối tương đối nhỏ, nhỏ hơn 100&nbsp;km² và trong thể [[batholith]] , chúng thường đi cùng với các đai [[kiến tạo sơn|tạo núi]]. Các [[dike|mạch nhỏ]] có thành phần giống granit được gọi là [[mạch aplit]] và chúng thường phân bố ở rìa của khối xâm nhập granit. Ở một vài nơi, các khối [[pegmatit]] hạt rất thô cũng đi cùng với granit.
Granit đã xâm nhập vào [[lớp vỏ (địa chất)|lớp vỏ]] của [[Trái Đất]] trong suốt các giai đoạn địa chất, mặc dù đa số trong chúng có tuổi [[Thời kỳ Tiền Cambri|tiền Cambri]]. Đá granit là đá nền bị phủ bởi hầu hết các đá trầm tích mỏng trong [[vỏ lục địa]].
 
Ngoài việc phân bố phổ biến trên thế giới, các khu vực được biết đến với các mỏ granit nổi tiếng như: [[Brasil]] - [[Phần Lan]] - [[India]] - [[Na Uy]] - [[Bồ Đào Nha]] ([[Chaves]] - [[Vila Pouca de Aguiar]]) - [[Tây Ban Nha]] ([[Galicia]] - [[Extremadura]]) - [[Nam Phi (khu vực)|miền nam Châu Phi]] ([[Angola]] - [[Namibia]] - [[Nam Phi]] - [[Zimbabwe]]) - [[Thuỵ Điển]] ([[Bohuslän]]) - [[Hoa Kỳ]] ([[New Hampshire]] - [[Vermont]] - [[Minnesota]] - [[Bắc Carolina]])
 
=== Phân loại Alphabet soup ===
Chappell và White đề xuất phương pháp này lần đầu tiên để chia granit thành hai loại là granit kiểu I và granit kiểu S hay granit có nguồn gốc từ đá trầm tích<ref>Chappell, B.W. and White, A.J.R., 2001. Two contrasting granite types: 25 years later. Australian Journal of Earth Sciences v.48, p.489-499.</ref>. Cả hai loại granit nay đều được hình thành từ sự nóng chảy các [[đá biến chất]] cấp cao, hoặc các đá granit hoặc các đá xâm nhập [[mafic]] khác, cũng có thể là các đá trầm tích.
 
Kiểu M hay kiểu [[lớp phủ (địa chất)|manti]] cũng được xếp loại sau này để chỉ các đá granit kết tinh từ mácma [[mafic]] có nguồn gốc chắc chắn là từ manti. Loại này rất hiếm gặp bởi vì rất khó để chuyển từ [[bazan]] thành granit thông qua quá trình [[kết tinh phân đoạn (địa chất)|kết tinh phân đoạn]].
 
Granit kiểu A- hay còn gọi là granit tạo sơn được hình thành bên trên các hoạt động phun trào núi lửa kiểu "điểm nóng" và khác nhau về đặc điểm [[khoáng vật học]] và [[địa hóa]]. Các loại granit này được hình thành từ sự nóng chảy của phần bên dưới [[lớp phủ (địa chất)|vỏ Trái Đất]] trong các điều kiện rất khô (không có dung dịch tham gia). Các đá ryolit ở [[Yellowstone caldera]] là các ví dụ về đá có thành phần tương tự với granit kiểu A.<ref name="Boroughs">Boroughs, S., Wolff, J., Bonnichsen, B., Godchaux, M., and Larson, P., 2005, Large-volume, low-δ18O rhyolites of the central Snake River Plain, Idaho, USA: Geology 33: 821–824.</ref><ref name="Frost">C.D. Frost, M. McCurry, R. Christiansen, K. Putirka and M. Kuntz, Extrusive A-type magmatism of the Yellowstone hot spot track 15th Goldschmidt Conference Field Trip AC-4. Field Trip Guide, University of Wyoming (2005) 76 pp., plus an appended map.</ref>
* (Stokes Diapir): là dạng một khối mácma xâm nhập và phá hủy các đá nằm trên nó
* Fracture Propagation: mácma dâng lên theo khe nứt (đứt gãy)
Trong hai cơ chế này, Stokes [[diapir]] đã được sử dụng trong nhiều năm mà không có lý do nào để thay thế nó. Ý tưởng cơ bản của nó là mácma xâm nhập vào vỏ Trái Đất như là một khối độc lập theo nguyên tắc [[đẩy nổi]]. Khi nó xâm nhập lên trên, nó nung chảy các đá xung quanh làm chúng ứng xử theo [[định luật Newton cho chất lưu]] và dòng chảy này được bao bọc bởi khối [[pluton|đá mác ma]] cho phép nó đi qua nhanh hơn mà không bị mất nhiều nhiệt (Weinberg, 1994). Điều này hoàn toàn hợp lý đối với phần bên dưới của vỏ gồm các đá nóng, dẻo, dễ biến dạng, nhưng lại không phù hợp với phần trên của vỏ nơi mà các đá lạnh hơn và giòn hơn. Các đá ở phần trên không dễ biến dạng, khi mácma dâng lên trong ống (pluton), nó phải tốn nhiều nhiệt hơn để nung nóng các đá xung quanh, chúng sẽ bị lạnh và hóa rắn trước khi xâm nhập lên các phần bên trên trong vỏ Trái Đất.
 
Ngày nay, xâm nhập theo đứt gãy (fracture propagation) là cơ chế được các nhà địa chất sử dụng khi giải thích các vấn đề chính liên quan đến sự di chuyển các khối mácma lớn trong vỏ Trái Đất lạnh và giòn. Mácma dâng lên trong các kênh nhỏ dọc theo hệ thống đứt gãy đã tồn tại trước và mạng lưới các đới căng giãn (chịu ứng suất cắt) đang hoạt động và kết tinh lại giữa các đứt gãy này gọi theo cơ chế tự chèn tạo thành các dyke (Clemens, 1998)<ref>{{chú thích tạp chí|title=Observations on the origins and ascent mechanisms of granitic magmas|journal=Journal of the Geological Society of London|date=1998|first=John|last=Clemens|coauthors=|volume=155|issue=Part 5|pages=843–51|id= |url=|format=|accessdate= | doi = 10.1144/gsjgs.155.5.0843 <!--Retrieved from Yahoo! by DOI bot--> | author = CLEMENS J. D. | year = 1998}}</ref>. Khi các kênh dẫn này mở ra, thì dòng mácma đầu tiên sẽ chen vào, hóa rắn và tạo một dạng chống mất nhiệt để các mácma sau xâm nhập vào.
 
Mácma granit phải tạo một không gian cho riêng nó hoặc xâm nhập vào các đá khác để tạo thành các đá xâm nhập, và một số cơ chế tổng quát cũng được đưa ra để giải thích sự có mặt của khác khối [[batholith]] lớn:
 
== Phóng xạ tự nhiên ==
Granit là nguồn phóng xạ tự nhiên giống như hầu hết các đá tự nhiên khác. Tuy nhiên, một số loại granit có lượng phóng xạ cao có thể gây nguy hiểm. Một số loại granit có hàm lượng [[Urani]] khoảng 10 đến 20 [[ppm]]. Trong khi đó, các đá [[mafic]] khác như tonalit, [[gabbro]] hoặc [[diorit]] hàm lượng này khoảng từ 1 đến 5 ppm, trong [[đá vôi]] và các [[đá trầm tích]] thì hàm lượng này thấp hơn. Một số ống dẫn (pluton) granit lớn là nguồn chứa các kênh dẫn cổ hay các tích tụ [[quặng urani]], ở đó urani bị rửa trôi từ granit và pegmatite có lượng phóng xạ cao lắng đọng cùng trầm tích. Granit có thể được xem là có khả năng gây các tai biến phóng xạ tự nhiên, ví dụ như các làng phát triển trên nền đá granit có thể chịu phóng xạ cao hơn các làng ở nơi khác.<ref>[http://www.uic.com.au/ral.htm Radiation and Life]</ref> Các tầng hầm và các phòng được thiết kế trong đất trên nền đá granit trở thành bẫy giữ khí [[radon]], một loại khí hiếm nặng hơn không khí và là sản phẩm phân rã từ urani<ref>{{chú thích web|url=http://www.world-nuclear.org/images/info/decayseries.gif|title=Decay series of Uranium|accessdate=2008-10-19}}</ref>. Radon can also be introduced into houses by wells drilled into granite<ref name="National Cancer Institute">{{chú thích web|url=http://www.cancer.gov/cancerTopics/factsheet/Risk/radon|title=Radon and Cancer: Questions and Answers|publisher=National Cancer Institute|accessdate=2008-10-19}}</ref>. Khí radon tác động mạnh tới sức khỏe, và là nguyên nhân gây [[ung thư]] xếp thứ 2 tại Mỹ sau khói thuốc<ref name="National Cancer Institute"/>.
 
Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, granit vẫn là nguồn phóng xạ tự nhiên trội hơn khi so sánh với các đá khác. Có rất nhiều tài liệu công bố của các cơ quan khảo sát địa chất trên thế giới có thể truy cập trực tuyến để xem các yếu tố gây nguy hiểm ở các vùng có granit và các nguyên tắc được liên quan đến việc phòng chống sự tích tụ khí radon trong nền nhà và nhà kính.
 
Một nghiên cứu về granit dùng làm mặt bàn bởi National Health and Engineering Inc of USA [http://www.marble-institute.com/industryresources/assessingexposureexecutivesummary.pdf], được đưa ra vào tháng 11 năm 2008, tuy nhiên nghiên cứu này không tìm thấy một loại đá granit đơn lẻ có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe. Hàm lượng radon và phóng xạ của đá đều nằm bên dưới giới hạn trung bình, và giá trị này rất phở biến ở Mỹ. Dựa trên kết quả thí nghiệm từ khoảng hơn 400 mẫu của 115 loại đá granit làm mặt bàn, các nhà khoa học kết luận being potentially problematic. Các đá được thí nghiệm bao gồm khoảng 80% các loại đá dùng làm mặt bàn trên thị trường tiêu thụ của Mỹ.
== Vách đá giả ==
[[Tập tin:Torres1.jpg|nhỏ|Đỉnh granit thuộc dãy [[Torres del Paine]] ở [[Patagonia]] , [[Chile]]]]
Granit là một trong những đá được các nhà leo núi chọn lựa vì nó không có bậc, vững chắc, hệ thống khe nứtt, masát. Các nơi có vách đá bằng granit nổi tiếng dùng để leo như [[Thung lũng Yosemit|Yosemit]], [[The Bugaboos|Bugaboos]], dãy núi [[Mont Blanc]] (gồm các đỉnh như [[Aiguille du Dru]], [[Aiguille du Midi]] và [[Grandes Jorasses]]), [[dãy núi Bregaglia|Bregaglia]], [[Corse]], các phần của [[Karakoram]], [[dãy Fitzroy, Patagonia]], [[đảo Baffin]], [[Cornwall|Cornish coastv]]à [[Cairngorms]].
 
Vách đá granit cũng có thể làm nhân tạo như trong các phòng tập thể dục và các công viên trò chơi trông có cảm giác giống như granit. Hầu hết chúng được làm bằng vật liệu tổng hợp vì granit thật rất nặng nếu dán lên các vách tường tập leo, cũng như trong các tòa nhà có tường cố định.
* [[Stone Mountain]], Georgia
 
==Chú Tham khảo thích==
{{Tham khảo}}
==Tham khảo==
 
== Liên kết ngoài ==