Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
clean up, replaced: → (44), → (44) using AWB
{{Redirect|Tiziano}}
{{Infobox Artist
| bgcolour = #6495ED
| name = Titian
| image = Tizian 090.jpg
| imagesize =
| alt =
| caption = Titian [[tự hoạ]], c.1567; [[Bảo tàng Prado|Museo del Prado]], Madrid
| birthname = Tiziano Vecelli
| birthdate = khoảng 1488/1490
| location = [[Pieve di Cadore]]
| deathdate = {{death date|1576|8|27|}} (aged 84-86)
| deathplace = [[Venezia|Venice]]
| nationality = [[Người Ý|Người Italia]]
| field = [[Hội họa|Hội hoạ]]
| training = [[Giorgione]]
| movement = [[Đỉnh cao Phục hưng]]
| works = [[Đức mẹ đồng trinh thăng thiên (Titian)|Đức mẹ đồng trinh thăng thiên]] <br /> [[Pesaro Altarpiece]] <br /> [[Venus of Urbino]]
| patrons =
| influenced by =
| influenced =
| awards =
}}
 
{{Otheruses}}
''' Tiziano Vecelli''' hay '''Tiziano Vecellio''', trong tiếng Việt còn có thể gọi là Ti xiêng (khoảng 1473/1490<ref>có lẽ khoảng 1488/1490, [http://www.getty.edu/vow/ULANFullDisplay?find=Titian&role=&nation=&prev_page=1&subjectid=500031075 Getty Union Artist Name List] và [http://www.metmuseum.org/toah/hd/tita/hd_tita.htm Metropolitan Museum of Art timeline, retrieved February 11, 2009] cả hai đều sử dụng khoảng 1488. Xem thảo luận về vấn đề bên dưới và tại [http://lafrusta.homestead.com/riv_tiziano.html When Was Titian Born?], đưa ra những bằng chứng, và ủng hộ con số 1477 — một quan điểm bất thường ngày nay. Gould (trang 264-66) cũng đưa ra đa số bằng chứng mà không dẫn tới một kết luận. Charles Hope trong Jaffé (trang 11) cũng thảo luận về vấn đề, ủng hộ một ngày "trong hay ngay trước năm 1490" trái ngược với hầu hết những ngày trước đó, cũng như Penny (trang 201) "có lẽ năm 1490 hay hơi sớm hơn". Vấn đề vẫn gây tranh cãi trong việc chia các tác phẩm giữa [[Giorgione]] và Titian trẻ.</ref> – 27 tháng 8 năm 1576<ref>[http://www.metmuseum.org/toah/hd/tita/hd_tita.htm Metropolitan Museum of Art timeline, retrieved February 11, 2009]</ref> thường được biết đến hơn với tên gọi '''Titian''' ({{pron-en|ˈtɪʃən}}) là một hoạ sĩ Italia, người lãnh đạo trường phái [[Venezia|Venice]] thế kỷ 16 của phong trào [[Phục hưng Italia]]. Ông sinh ra tại [[Pieve di Cadore]], gần [[Belluno]] (ở [[Veneto]]), thuộc [[Cộng hoà Venice]]. Trong cuộc đời của mình, ông thường được gọi là ''Da Cadore'', theo nơi sinh của ông.
 
Được những người đương thời công nhận là "Mặt trời giữa những ngôi sao nhỏ" (gợi nhớ lại những dòng cuối cùng trong cuốn ''[[Thần Khúc]]'' của [[Dante Alighieri|Dante]]), Titian là một trong những hoạ sĩ Italia đa tài nhất, tinh thông cả về chân dung, phong cảnh và các chủ đề thần thoại và tôn giáo. Những phương pháp sáng tác của ông, đặc biệt trong việc áp dụng và sử dụng màu sắc, sẽ có ảnh hưởng sâu sắc không chỉ với những hoạ sĩ Italia thời Phục hưng, mà cả với những thế hệ tiếp sau của [[nghệ thuật phương Tây]].<ref>Fossi, Gloria, ''Italian Art: Painting, Sculpture, Architecture from the Origins to the Present Day'', p. 194. Giunti, 2000. ISBN 88-09-01771-4</ref>
 
Trong cuộc đời khá dài của mình phong cách nghệ thuật của Titian đã thay đổi mạnh mẽ<ref>Các đường viền trong các tác phẩm đầu tiên có thể được miêu tả là "chính xác và rõ ràng", trong khi các phương pháp sau này của ông đã được cho là "ông vẽ nhiều với những ngón tay của mình hơn là với những bút vẽ." Dunkerton, Jill, et al., ''Dürer to Veronese: Sixteenth-Century Painting in the National Gallery'', p.281–286. Yale University, National Gallery Publications, 1999. ISBN 0-300-07220-1</ref> nhưng ông vẫn giữ lại sự chú trọng đặc biệt với màu sắc. Dù những tác phẩm sau này của ông có thể không chứa đựng sự mạnh mẽ, màu sắc tươi sáng như những tác phẩm ban đầu, phong cách vẽ lỏng tay và những sự biến đổi màu sắc huyền ảo là chưa từng có trong lịch sử nghệ thuật phương Tây.
=== Những năm tuổi trẻ ===
 
Không ai chắc chắn về ngày sinh chính xác của Titian, khi đã già trong một bức thư gửi [[Felipe II của Tây Ban Nha|Philip II]] ông tuyên bố mình sinh năm 1474, nhưng dường như điều này không chính xác.<ref name="NG">[[Cecil Gould]], The Sixteenth Century Italian Schools, National Gallery Catalogues, p. 265, London, 1975, ISBN 0-947645-22-5</ref> Các tác gia đương thời với ông đưa ra những con số về độ tuổi ông tương đương với ngày sinh trong khoảng từ năm 1473 tới sau năm 1482,<ref>[http://lafrusta.homestead.com/riv_tiziano.html When Was Titian Born?]</ref> nhưng hầu hết các học giả hiện đại tin rằng một ngày gần năm 1490 dường như chính xác hơn; thời gian biểu của [[Metropolitan Museum of Art]] ủng hộ khoảng năm1488, tương tự là [[Getty Research Institute]].<ref>Xem tham khảo trên</ref> Ông là người con lớn nhất trong gia đình gồm bốn người con trai của Gregorio Vecelli, một uỷ viên hội đồng và quân nhân có danh tiếng, cùng vợ là Lucia. Cha ông là người trông nom lâu đài [[Pieve di Cadore]] và cũng quản lý các mỏ ở địa phương cho những người sở hữu chúng.<ref name="DJ">David Jaffé (ed), Titian, The National Gallery Company/Yale, p. 11, London 2003, ISBN 1 857099036</ref> Nhiều người họ hàng, gồm cả ông của Titian, là [[công chứng viên]], và gia đình này khá có vị thế trong vùng, nơi nằm dưới sự cai quản của Venice.
[[Tập tin:Tizian 078.jpg|nhỏ|trái|Bức chân dung sớm này (khoảng năm 1512) từ lâu đã bị tin tưởng một cách sai lầm là của ''[[Ariosto]]''; dường như nó là một bức tự hoạ, và cấu trúc của nó đã được [[Rembrandt]] mượn cho những bức tự hoạ của mình.]]
 
Khoảng 10 hay 12 tuổi ông cùng em trai Francesco (người có lẽ sau này mới đi theo) được gửi tới một người chú ở Venice để trở thành thợ học nghề với một hoạ sĩ. Hoạ sĩ không mấy tên tuổi, Sebastian Zuccato, mà những người con trai sẽ trở thành những nghệ nhân [[khảm]] nổi tiếng, và có thể là một người bạn của gia đình, đã thu xếp để hai anh em vào xưởng của hoạ sĩ [[Gentile Bellini]] già cả, từ đó sau này họ được chuyển cho em trai ông là [[Giovanni Bellini]].<ref name="DJ"/> Ở thời ấy anh em nhà Bellini, đặc biệt là Giovanni, là những nghệ sĩ hàng đầu của thành phố. Tại đó ông đã lập ra một nhóm những thanh niên trẻ cùng độ tuổi mình, trong đó có Giovanni Palma da Serinalta, [[Lorenzo Lotto]], [[Sebastiano del Piombo|Sebastiano Luciani]], và Giorgio da Castelfranco, tên hiệu [[Giorgione]]. [[Francesco Vecellio]], em trai ông, sau này cũng là một hoạ sĩ hơi có tiếng ở Venice.
 
Một bức [[tranh tường]] về [[Heracles|Hercules]] tại Cung điện [[Morosini]] được cho là một trong những tác phẩm đầu tiên của ông; những tác phẩm khác là cái gọi là Bellini-esque ''Gypsy Madonna'' tại Vienna,<ref>Jaffé No. 1, pp. 74-75 [http://www.wga.hu//art/t/tiziano/01_1510s/06gipsy.jpg image]</ref> và ''Visitation of Mary and Elizabeth'' (từ tu viện S. Andrea), hiện ở [[Accademia]], Venice.
 
Titian theo Giorgione như một người trợ lý, nhưng nhiều nhà phê bình đương thời đã thấy tác phẩm của ông có ấn tượng hơn, ví dụ như những bức tranh tường bên ngoài (hiện hầu như đã bị hư hỏng) mà họ làm cho Fondacio dei Tedeschi, và mối quan hệ của họ rõ ràng có một yếu tố lớn gây bất hoà. Sự phân biệt giữa tác phẩm của hai người trong thời kỳ này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi của giới học thuật, và đã có việc gắn các tác phẩm của Giorgione cho Titian ở thế kỷ 20, và ít khi tác phẩm của Titian bị cho là của Giorgione. Một trong những tác phẩm sớm nhất được biết của Titian, ''[[Ecce Homo]]''<ref>[http://www.abcgallery.com/T/titian/titian112.html Ecce Homo]</ref> của [[Scuola di San Rocco]], từ lâu đã được coi là một tác phẩm của Giorgione.<ref>Charles Hope, in Jaffé, pp. 11-14</ref>
 
Hai nghệ sĩ bậc thầy trẻ tuổi cũng được công nhận là hai lãnh đạo của trường phái "arte moderna" (nghệ thuật hiện đại) của họ, có nghĩa bức hoạ uyển chuyển hơn, tự do thoát khỏi sự đối xứng và những khuôn mẫu tôn ti cấp bậc vốn vẫn được thấy trong các tác phẩm của Giovanni Bellini.
[[Tập tin:Titian-salome.jpg|nhỏ|[[Salome]], hay [[Judith]]; tác phẩm tôn giáo này cũng được coi như một bức chân dung lý tưởng hoá về cái đẹp, một thể loại do Titian phát triển, được cho là thường sử dụng các cô [[gái điếm hạng sang]] Venice làm người mẫu.]]
 
Năm 1507–1508 Giorgione được nhà nước đặt hàng thực hiện các bức tranh tường trên [[Fondaco dei Tedeschi]] được dựng lại. Titian và [[Morto da Feltre]] làm việc cùng với ông, và một số mảng bức tranh còn sót lại, có thể là bởi Giorgione. Một số công việc của họ được biết tới, một phần, qua những bản in khắc của [[Fontana]]. Sau cái chết sớm của Giorgione năm 1510, Titian tiếp tục vẽ các chủ đề theo phong cách Giorgionesque trong một số thời điểm, dù phong cách của ông đã phát triển thành thương hiệu riêng của mình, gồm cả cách vẽ bút đậm và diễn cảm.
 
Tài năng của Titian trong lĩnh vực tranh tường được thể hiện trong những bức tranh ông vẽ năm 1511 tại [[Padova|Padua]] ở nhà thờ [[Carmelites|Carmelite]] và tại Scuola del Santo, một số bức trong số đó đã được bảo tồn, trong số đó có ''Meeting at the Golden Gate'', và ba cảnh từ cuộc đời của St. Anthony of Padua, bức ''Murder of a Young Woman by Her Husband'', ''A Child Testifying to Its Mother's Innocence'', và ''The Saint Healing the Young Man with a Broken Limb.''
Năm 1516 ông hoàn thành bệ thờ cao của [[Basilica di Santa Maria Gloriosa dei Frari|nhà thờ Frari]], kiệt tác nổi tiếng của ông, ''[[Đức mẹ đồng trinh thăng thiên (Titian)|Đức mẹ đồng trinh thăng thiên]]'', vẫn ở nguyên chỗ. Sự phi thường của tác phẩm trong màu sắc, được thể hiện ở một tỷ lệ lớn hiếm thấy trước đó tại Italia, đã tạo ra một sự xúc động mạnh.<ref>Charles Hope in Jaffé, p. 14</ref> [[Signoria]] đã lưu ý, và quan sát rằng Titian đã sao lãng công việc của mình tại đại sảnh đại hội đồng.
 
Cấu trúc hình tượng của ''Thăng thiên''—cấu trúc thống nhất trong cùng thành phần hai hay ba cảnh được chồng lên ở những mức khác nhau, trái đất và thiên đường, thời gian và vô hạn — được tiếp nối trong một loạt các tác phẩm như bàn thờ của San Domenico tại [[Ancona]] (1520), bàn thờ của [[Brescia]] (1522), và bàn thờ của San Niccolò (1523), tại [[Bảo tàng Vatican]]), mỗi lần đạt tới một ý niệm cao hơn và hoàn thiện hơn, cuối cùng đạt tới một thể thức cổ điển trong ''[[Pesaro Madonna]]'', (thường được biết tới với tên gọi Madonna di Ca' Pesaro) (khoảng 1519–1526), cũng cho nhà thờ Frari. Đây có lẽ là tác phẩm được nghiên cứu nhiều nhất của ông, mà cách bố trí được phát triển một cách thận trọng của nó được đặt ra với sự thể hiện cao nhất của trật tự và tự do, tính sáng tạo và phong cách. Ở đây Titian đã đưa ra một quan niệm mới về các nhóm người quyên cúng truyền thống và những nhân vật thần thánh di chuyển trong không gian, những cách bố trí và những cấp độ khkác nhau được đặt trong phạm vi kiến trúc.<ref>Charles Hope in Jaffé, pp. 16-17</ref>
 
Titian khi ấy đang ở đỉnh cao danh vọng, và tới năm 1521, sau khi sáng tác khuôn mặt St. Sebastian cho người đại diện giáo hoàng tại Brescia (một tác phẩm có nhiều bản sao), những nhà sưu tập tranh nhau các tác phẩm của ông.
 
Trong giai đoạn này có một tác phẩm phi thường hơn, ''The Death of St. Peter Martyr'' (1530), trước kia tại Nhà thờ Dominican ở [[Basilica di San Zanipolo|San Zanipolo]], và đã bị phá huỷ bởi một quả đạn của Áo năm 1867. Chỉ những bản sao và bản [[tranh khắc|khắc]] của bức tranh tiền [[Baroque]] này còn lại; nó phối hợp một sự bạo lực cực điểm và phong cảnh, chủ yếu gồm một cây lớn, nhấn vào phong cảnh và dường như làm nổi bật bối cảnh theo cách thức làm hướng tới [[Baroque]].<ref>Charles Hope, in Jaffé, p. 17 [http://www.gutenberg.org/files/22263/22263-h/images/plate16.jpg Engraving of the painting]</ref>
Đồng thời nghệ sĩ tiếp tục loạt tác phẩm nhỏ [[Madonna (nghệ thuật)|Madonna]] của mình, mà ông đặt vào giữa những phong cảnh đẹp đẽ theo cách những bức đời thường hay mục đồng thơ mộng, bức ''Virgin with the Rabbit'' tại bảo tàng [[Bảo tàng Louvre|Louvre]] là phong cách kết thúc của những bức tranh này. Tác phẩm khác trong cùng giai đoạn, cũng tại Louvre, là ''Entombment''. Đây cũng là giai đoạn của ba bức tranh cảnh thần thoại lớn và nổi tiếng cho ''[[Cabinet (kiến trúc)|camerino]]'' của [[Alfonso d'Este]] tại [[Ferrara]], ''The Andrians'' và ''Worship of Venus'' tại [[Prado]], và ''[[Bacchus and Ariadne]]'' (1520-23) tại [[Luân Đôn|London]],<ref>Jaffé, pp. 100-111</ref> "...có lẽ là những tác phẩm nổi bật nhất của văn hoá tân ngoại giáo hay "Alexandrianism" của Thời kỳ Phục hưng, đã nhiều lần được phỏng theo nhưng không bao giờ vượt qua được thậm chí bởi cả chính [[Peter Paul Rubens|Rubens]]."<ref name="catencyclo">[http://www.newadvent.org/cathen/14742a.htm Catholic Encyclopedia]</ref> Cuối cùng đây là giai đoạn khi nhà nghệ sĩ phối hợp những nhân vật bán thân và những bức tượng bán thân của những phụ nữ trẻ, có lẽ là những [[gái điếm hạng sang]], như ''Flora'' của [[Uffizi]], hay ''The Young Woman at Her Toilet'' tại Louvre.
[[Tập tin:Carlos V en Mühlberg, by Titian, from Prado in Google Earth.jpg|nhỏ|trái|Chân dung Hoàng đế Charles V [[Trận Mühlberg|tại Mühlberg]] của Titian (1548) đã lập ra một thể loại mới, thể loại những bức chân dung cưỡi ngựa lớn. Cấu trúc dốc cả theo truyền thống [[điêu khắc cưỡi ngựa]] của La mã và trong những cách thể hiện thời trung cổ của một kỹ sị Thiên chúa giáo lý tưởng, nhưng nhân vật mệt mỏi và khuôn mặt có nét tinh nhanh lại không tuân theo những cách thể hiện đó.]]
 
Năm 1525 ông cưới một quý bà tên là Cecilia, nhờ thế hợp pháp hoá cho đứa con đầu của họ, Pomponio, và hai đứa con tiếp theo, gồm cả người con được Titian yêu quý, Orazio, người sẽ trở thành trợ lý của ông. Khoảng năm 1526 bắt đầu quen biết, và nhanh chóng trở nên thân thiết với [[Pietro Aretino]], nhân vật trơ tráo và có ảnh hưởng thường được đề cập một cách kỳ cục trong những cuốn biên niên sử thời kỳ ấy. Titian gửi một bức chân dung của mình cho Gonzaga, quận công [[Mantua]].
 
Tháng 8 năm 1530 vợ ông mất khi sinh cô con gái, Lavinia, và cùng với ba người con ông chuyển nhà, và thuyết phục em gái của mình là Orsa tới từ Cadore để giúp coi sóc nhà cửa. Căn nhà, hiện rất khó tìm, nằm tại Bin Grande, khi ấy là một khu ngoại ô danh tiếng, ở ngoài rìa Venice, trên bờ biển, với những khu vườn đẹp và nhìn thẳng ra Murano.
=== Danh vọng ===
[[Tập tin:Ritratto dell ambasciatore Gabriel de Luetz d Aramont Tiziano Vecellio 1541 1542 oil on canvas 76 x 74 cm.jpg|nhỏ|Đại sứ Pháp tại [[Ottoman Porte]] [[Gabriel de Luetz|Gabriel de Luetz d'Aramont]], 1541-1542.]]
Trong giai đoạn tiếp theo (1530–1550), Titian đã phát triển phong cách được khởi đầu bởi tác phẩm ''Death of St. Peter Martyr'' gây ấn tượng của ông. Chính phủ Venice, không hài lòng với sự sao lãng của Titian với công việc tại cung điện kép, vào năm 1538 ra lệnh cho ông trả lại số tiền ông đã nhận, và [[Pordenone]], đối thủ mới xuất hiện của ông, được chọn thay thế. Tuy nhiên, trong một năm Pordenone chết, và Titian, người khi ấy đang hăng say sáng tác bức tranh ''Trận Cadore'' trong đại sảnh, được gọi lại. Bức tranh cảnh trận đánh lớn này, đã mất cùng với rất nhiều tác phẩm lớn khác của các nghệ sĩ trường phái Venice bởi một trận hoả hoạn lớn phá huỷ toàn bộ những bức tranh cũ bên trong những căn phòng lớn của [[Cung điện Doge]] năm 1577. Nó thể hiện ở kích cỡ thực thời điểm khi vị tướng của Venice, [[Bartolomeo d'Alviano|D'Alviano]] tấn công quân địch với những con ngựa và binh lính đang lao qua một con suối, và là nỗ lực quan trọng nhất của người nghệ sĩ với một bức tranh hành động hỗn độn và anh hùng là đối thủ của bức ''Trận Constantine'' của [[Raffaello|Raphael]] và cũng có số phận không may mắn như bức ''Trận Cascina'' của [[Michelangelo]] và ''Trận Anghiari'' của [[Leonardo da Vinci|Leonardo]] (cả hai đều chưa hoàn thành). Hiện chỉ có một bản sao tồi, chưa hoàn thành tại Uffizi, và một bức khắc tầm thường của Fontana. Bức ''Speech of the Marquis del Vasto'' (Madrid, 1541) chỉ bị lửa phá huỷ một phần. Nhưng đỉnh cao của giai đoạn này vẫn được thể hiện trong bức ''Presentation of the Blessed Virgin'' (Venice, 1539), một trong những bức sơn dầu nổi tiếng nhất của ông, và qua bức ''Ecce Homo'' ([[Viên]], 1541). Dù đã mất, bức tranh vẫn có ảnh hưởng lớn với nghệ thuật [[Bologna]] và [[Rubens]], cả trong cách xử lý các chi tiết và hiệu ứng chung của những con ngựa, các binh sĩ, các vệ sĩ, sự kích động mạnh mẽ của các đám đông ở dưới chân cầu thang, được soi sáng bởi những ánh đuốc với những ngọn cờ bay trên bầu trời.
 
[[Tập tin:Tizian 012.jpg|nhỏ|trái|Cách xử lý màu sắc tuyệt mỹ của Titian được minh hoạ trong tác phẩm ''[[Danaë]]'', một trong những bức tranh thần thoại, hay "poesie" ("thi ca") như hoạ sĩ gọi chúng, được thực hiện cho [[Felipe II của Tây Ban Nha|Philip II của Tây Ban Nha]]. Dù Michelangelo đã phán xét bức tranh này theo quan điểm hội hoạ, Titian và xưởng của mình đã tạo ra nhiều phiên bản cho những người bảo trợ khác.]]
Những tính chất vừa được nêu trên thể hiện đầy đủ trong bức ''[[chân dung Paul III (Titian)|Chân dung Paul III]]'' của [[Napoli|Naples]], hay bản phác hoạ [[Paul III và cháu Alessandro và Ottavio Farnese|giáo hoàng và hai người cháu]], ''[[Chân dung Pietro Aretino (Titian)|Chân dung Aretino]]'' tại Cung điện Pitti, ''Eleanora của Bồ Đào Nha'' (Madrid), và loạt tranh [[Charles V, Hoàng đế Roma Thần thánh|Vua Charles V]] trong cùng bảo tàng, ''Charles V với một chú chó săn'' (1533), và đặc biệt là ''Charles V tại Mühlberg'' (1548), một bức tranh chân dung cưỡi ngựa với một sự hoà nhịp của các màu tía có lẽ là ''ne plus ultra'' của nghệ thuật hội hoạ.
 
Năm 1532 sau khi vẽ một bức chân dung của hoàng đế Charles V tại Bologna ông được phong là Bá tước Palatine và một hiệp sĩ trong Golden Spur. Các con ông cũng được phong là các quý tộc của Đế chế, một danh dự đặc biệt dành cho một hoạ sĩ.
 
[[Tập tin:Tizian 085.jpg|nhỏ|phải|''Cưỡng hiếp [[Europa (thần thoại)|Europa]]'' (1562) là một cấu trúc nhấn theo đường tréo được chiêm ngưỡng và sao chép bởi [[Peter Paul Rubens|Rubens]]. Trái với sự trong sáng trong những tác phẩm thời kỳ đầu của Titian, nó hầu như theo phong cách [[baroque]] với những đường mờ, màu sắc xoáy, và những nét bút mạnh mẽ.]]
Trong hai mươi nhăm năm cuối cuộc đời (1550–1576) nghệ sĩ chủ yếu làm việc cho Philip II như một hoạ sĩ vẽ chân dung. Ông trở nên tự phê bình, một người đam mê sự hoàn thiện không thể đạt tới, giữ một số bức trong xưởng của mình trong mười năm, không bao giờ buồn chán khi quay lại và sửa chữa chúng, luôn thêm những cách thể hiện mới để bức tranh thêm thuần khiết, súc tích và tinh vi. Ông cũng hoàn thiện nhiều bản copy các tác phẩm ban đầu của ông do các học trò thực hiện, khơi nên nhiều vấn đề về sự quy kết và sự ưu tiên trong những phiên bản của các tác phẩm của ông, vốn cũng được copy và giả mạo nhiều bên ngoài xưởng của ông, trong cả cuộc đời ông và sau đó.
 
Với Philip II ông đã vẽ một loạt tranh thần thoại lớn được gọi là "poesie", chủ yếu từ [[Ovid]], được coi nằm trong những tác phẩm vĩ đại nhất của ông.<ref>Penny, 204</ref> Nhờ sự điệu bộ kiểu cách của những người kế vị Philip, chúng sau này chủ yếu đã được cho đi như những món quà tặng và chỉ hai bức còn ở lại Prado. Titian cùng lúc ấy cũng sáng tác các tác phẩm tôn giáo cho Philip. Loạt tranh "poesie" bắt đầu với ''Venus và [[Adonis]]'', bức tranh gốc nằm tại Prado, nhưng có nhiều phiên bản, và ''[[Danaë]]'', cả hai đều được gửi tới Philip năm 1553.<ref>''Museo del Prado, Catálogo de las pinturas'', 1996, p. 402, Ministerio de Educación y Cultura, Madrid, ISBN 84-87317-53-7</ref>''[[Diana và Actaeon (Titian)|Diana và Actaeon]]'' và ''[[Diana và Callisto]]'', được gửi đi năm 1559, sau đó là ''Perseus và Andromeda'' ([[Bộ sưu tập Wallace]], hiện đã bị hư hại) và ''Hãm hiếp Europa'' (Boston, [[Bảo tàng Isabella Stewart Gardner]]), được giao năm 1562. ''[[Cái chết của Actaeon]]'' được bắt đầu năm 1559 nhưng được thực hiện trong nhiều năm, và không bao giờ được hoàn thành hay chuyển giao.<ref>Penny, 249-50</ref> Bức tranh khác rõ ràng vẫn còn ở xưởng khi ông mất, và ít nổi tiếng cho tới những thập kỷ gần đây, là bức tranh mạnh mẽ, thậm chí có ý "khước từ", ''Flaying of [[Marsyas]]'' ([[Kroměříž]], [[Cộng hòa Séc|Cộng hoà Séc]])<ref>Giles Robertson, in: Jane Martineau (ed), ''The Genius of Venice, 1500-1600'', pp. 231-3, 1983, Royal Academy of Arts, London</ref> Một kiệt tác bạo lực khác là bức ''[[Tarquin]] và [[Lucretia]]'' tại [[Bảo tàng Fitzwilliam]], [[Cambridge]].<ref>Robertson, pp. 229-230</ref>
 
Với mỗi vấn đề mà ông đã thực hiện thành công ông đều tạo ra một công thức mới và hoàn thiện hơn. Ông không bao giờ còn tạo được cảm xúc và tính bi kịch của ''Crowning with Thorns'' (Louvre), trong sự thể hiện thần thoại và thần thánh ông không bao giờ còn tạo được chất thơ của ''Pilgrims of Emmaus'', trong khi về tính hùng vĩ và sự chói lọi anh hùng ông không bao giờ một lần nữa đạt tới điều gì lớn hơn ''The Doge Grimani adoring Faith'' (Venice, [[Dinh tổng trấn (Venezia)|Doge's Palace]]), hay ''Trinity'', tại Madrid. Mặt khác, từ quan điểm các trạng thái màu mạnh, những bức tranh động nhiều nhất của ông là những bức tranh sáng tác khi ông đã lớn tuổi, như loạt tranh ''poesie'' và ''[[Antiope]]'' tại Louvre. Ông thậm chí đã tìm cách giải quyết các vấn đề [[phối hợp màu tương phản]] trong những hiệu ứng kỳ quái buổi đêm (''Martyrdom of St. Laurence'', Nhà thờ dòng Tên, Venice; ''St. Jerome'', Louvre).
 
Titian đã hứa hôn cô con gái Lavinia, cô gái xinh đẹp mà ông rất yêu chiều và đã nhiều lẫn vẽ tranh, cho Cornelio Sarcinelli của Serravalle. Cô đã thay thế cho người cô Orsa, khi ấy đã mất, trong công việc chăm sóc nhà cửa, mà với khoản thu nhập to lớn Titian kiếm được ở thời điểm đó, đã khiến cô có một địa vị khá cao. Cuộc hôn nhân diễn ra năm 1554. Cô mất khi sinh con năm 1560.
 
[[Tập tin:Tizian 053.jpg|nhỏ|phải|Như rất nhiều tác phẩm sau này của ông, bức tranh cuối cùng của Titian, [[Pietà (Titian)|Pietà]], là một cảnh gây xúc động được đặt trong bối cảnh đêm. Nó rõ ràng được dự định cho nhà nguyện ngôi mộ của chính ông.]]
Ông tiếp tục nhận các đặt hàng khác cho tới cuối đời. Ông đã lựa chọn nơi chôn cất và xây nhà nguyệnc ủa mình ở Crucifix tại [[Santa Maria Gloriosa dei Frari]], nhà thờ của Franciscan Order; để đổi lấy một ngôi mộ, ông đã đề nghị sáng tác một bức hoạ [[Franciscan]] của [[Pietà (Titian)|Pietà]], thể hiện chính ông và con trai Orazio trước Chúa cứu thế, một nhân vật khác trong bố cục là một bà đồng. Tác phẩm này ông đã gần hoàn thành, nhưng một số khác biệt nảy sinh liên quan tới nó, và sau đó ông đã được chôn cất tại nơi sinh là Pieve.
 
Titian (tuỳ thuộc vào ngày sinh chưa được rõ của ông - xem bên trên) có lẽ đã ở cuối lứa tuổi 80 khi [[dịch hạch|bệnh dịch hạch]] bùng phát tại Venice và lấy đi mạng sống của ông ngày 27 tháng 8 năm 1576. Ông là nạn nhân duy nhất bị bệnh dịch tại Venice được thực hiện lễ tang tại nhà thờ. Ông được chôn cất tại [[Frari]] ([[Santa Maria Gloriosa dei Frari]]), như dự định ban đầu, và ''Pietà'' của ông được [[Palma Trẻ]] hoàn thành. Ông nằm bên cạnh bức hoạ nổi tiếng của chính mình, Madonna di Ca' Pesaro. Không có đài tưởng niệm nào ghi dấu ngôi mộ của ông, mãi cho tới sau này khi những người Áo cai trị Venice đặt hàng [[Antonio Canova|Canova]] xây một đài tưởng niệm lớn.
 
Ngay sau cái chết của Titian, con trai và là người trợ lý của ông là Orazio chết cũng vị bệnh dịch này. Ngôi nhà lộng lẫy của ông đã bị bọn cướp cướp phá trong thời gian diễn ra bệnh dịch.
| accessdate = 2009-02-11
| publisher = BBC News
}} See embedded film clip also.</ref> Cameron sau này đã xin lỗi và nói rằng nhân viên đó "đã bị kỷ luật".<ref>[http://www.independent.co.uk/news/uk/politics/cameron-apologises-over-wikipedia-change-1607488.html Press Association/The Independent] February 12, 2009</ref> Ngày sinh chính xác của Titian vẫn chưa chắc chắn (xem bên trên).
 
Sự tham khảo dựa trên bình luận của Brown ngày 30 tháng 1 năm 2009 tại [[Diễn đàn Kinh tế thế giới|Diễn đàn Kinh tế Thế giới]] ở [[Davos]]:<blockquote>Đây là cuộc khủng hoảng tài chính đầu tiên của thời kỳ toàn cầu hoá, và không có lộ trình rõ ràng được lập ra từ kinh nghiệm quá khứ để đương đầu với nó. Tôi nhớ lại câu chuyện về Titian, nhà hoạ sĩ vĩ đại đã sống tới 90 tuổi, đã hoàn thành tác phẩm cuối cùng trong gần 100 tác phẩm kiệt xuất của mình, và ông đã nói khi hoàn thành nó, "Cuối cùng tôi đã bắt đầu học cách vẽ", và đó chính là thời điểm chúng ta đang ở tại.<ref>[http://news.bbc.co.uk/1/hi/business/davos/7862203.stm BBC], gồm cả film clip. Titian trên thực tế đã vẽ hơn 100 bức tranh; catalogue của Terisio Pignattie (Rizzoli, 1979, và trong bản dịch tiếng Anh) liệt kê 646 bức, dù nhiều bức trong số đó là các phiên bản do xưởng sáng tác. Vasari nói các tác phẩm của ông "không có số".</ref></blockquote>
* [[Cecil Gould|Gould, Cecil]], ''The Sixteenth Century Italian Schools'', National Gallery Catalogues, London 1975, ISBN 0-947645-22-5
* Landau, David, in Jane Martineau (ed), ''The Genius of Venice, 1500-1600'', 1983, Royal Academy of Arts, London.
* [[Nicholas Penny|Penny, Nicholas]], National Gallery Catalogues (new series): ''The Sixteenth Century Italian Paintings, Volume II, Venice 1540-1600'', 2008, National Gallery Publications Ltd, ISBN 1-85709-913-3
* [[Carlo Ridolfi|Ridolfi, Carlo]] (1594 - 1658); ''The Life of Titian'', translated by Julia Conaway Bondanella and Peter E. Bondanella, Penn State Press, 1996, ISBN 0-271-01627-2, 9780271016276 [http://books.google.co.uk/books?id=nNxVU2khKfcC&pg=PA43&dq=Titian+Vasari+learning+how+to+paint&lr=&as_brr=3#PPA58,M1 Google Books]
 
 
{{Persondata
|NAME = Titian
|ALTERNATIVE NAMES = Vecelli, Tiziano
|SHORT DESCRIPTION = Hoạ sĩ Italia
|DATE OF BIRTH = 1485
|PLACE OF BIRTH = [[Pieve di Cadore]], Italia
|DATE OF DEATH = 27 tháng 8 năm 1576
|PLACE OF DEATH = Venice
}}
[[Thể loại:Hoạ sĩ Italia]]