Khác biệt giữa các bản “Chùa Tây An”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
n
[[Tập tin:Chùa Tây An núi Sam.jpg|nhỏ|phải|250px|Chùa Tây An núi Sam]]
'''Chùa Tây An''' còn được gọi là '''Chùa Tây An Núi Sam''' hay '''Tây An cổ tự''', là một ngôi [[chùa]] [[Phật giáo]] tọa lạc tại ngã ba, dưới chân núi [[núi Sam]] (nay thuộc [[Núi Sam (phường)|phường Núi Sam]], [[châu Đốc (thành phố)|thành phố Châu Đốc]], tỉnh [[An Giang]]).
 
Ngôi chùa này đã được Bộ Văn Hóa xếp hạng là di tích "kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia" theo quyết định số: 92/VH.QĐ ngày [[10 tháng 7|10 tháng 07]] năm [[1980]]; và đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam chính thức công nhận đây là "ngôi chùa có kiến trúc kết hợp phong cách nghệ thuật [[Ấn Độ]] và kiến trúc cổ dân tộc đầu tiên tại [[Việt Nam]]" <ref>Theo [http://www.tin247.com/chua_tay_an_lap_ky_luc_viet_nam-13-21633243.html].</ref>.
Cũng trong khoảng thời gian này (tức vào những năm [[1850]]) ông [[Đoàn Minh Huyên]] ([[1807]]-[[1856]]), người sáng lập ra [[đạo Bửu Sơn Kỳ Hương]] ([[1849]]) đến tu tại chùa, nên chùa càng nổi tiếng.
[[Tập tin:Vườn tháp chùa Tây An.jpg|nhỏ|phải|250px|Vườn tháp chùa Tây An]]
Các vị sư trụ trì chùa Tây An gồm: Hải Tịnh (thế danh Nguyễn Văn Giác), Hoàng Ân (thế danh Nguyễn Nhất Thừa), Huệ Quang (thế danh Nguyễn Trang Nghiêm), Thuần Hậu (thế danh Huỳnh Văn Đắc), Thiện Pháp (thế danh Ngô Văn Hòa), Thích Bửu Thọ (thế danh Nguyễn Thế Mật), Huệ Châu (thế danh Hồ Thạch Hùng), Định Long (thế danh Phạm Văn Trực), Huệ Kỉnh (thế danh Trần Văn Cung).<ref>[http://chaudoc.angiang.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3j3oBBLczdTEwMLD383A09nx1ADT_MgXxNzA_2CbEdFAK4vDC8!/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/chaudoc/siteofchaudoc/khamphachaudoc/ditichlichsu/chua+tay+an Bài "Chùa Tây An" của Yến Phượng trên cổng thông tin điện tử thị xã Châu Đốc, truy cập ngày 19/11/2010].</ref>
 
Sách ''[[Đại Nam nhất thống chí]]'' viết về chùa Tây An như sau:
Mặt tiền chùa, ở giữa là tháp thờ [[Phật]] cao hai tầng. Tầng trên là tượng [[Phật]] đứng giữa lầu cao, mái tròn cong, đỉnh nhọn như các tháp xưa ở [[Ấn Độ]]. Bốn cột tháp ở tầng dưới có các hộ pháp trấn giữ, phía trước có tượng hai con [[voi]]: bạch tượng và hắc tượng.
 
Chính điện là dãy nhà rộng, hai tầng mái, lợp ngói đại ống, cột gỗ căm xe, nền lát gạch bông. Hai bên là lầu chiêng và lầu trống hình tứ giác, trên đỉnh trang trí các tượng ''tứ linh'' (long, lân, qui, phụng) rất mỹ thuật. Đại hồng chung ở lầu chuông được tạo vào năm [[Tự Đức]] thứ 32 ([[1879]]).
 
Trong chính điện có khoảng 150 <ref>Theo Nguyễn Hữu Hiệp, "Tây An Cổ Tự ở Núi Sam" trong ''Nam Bộ đất và người'' (Viện Khoa học Lịch sử TP. HCM và NXB Trẻ hợp tác xuất bản, 2005, tr. 426-427-428).</ref> pho tượng lớn nhỏ: tượng [[Phật]], [[Bồ Tát|Bồ tát]], [[A-la-hán|La hán]], [[Bát bộ kim cang]], [[Ngọc Hoàng Thượng đế|Ngọc hoàng]], Huỳnh đế, Thần nông v.v...Đa số tượng đều làm bằng danh mộc, chạm trổ công phu và mỹ thuật, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc [[Việt Nam]] vào [[thế kỷ 19]]. Ngoài ra chùa còn có nhiều hoành phi và câu đối, màu sắc rực rỡ.
5.681.853

lần sửa đổi