Khác biệt giữa các bản “Màu nước”

n
không có tóm lược sửa đổi
(Trang mới: “nhỏ|phải|250px|''Chân dung tự họa'', [[Paul Cézanne, 22 x 26 cm, màu nước, 1895]] '''Màu nước''' hay '''mầu n…”)
 
n
== Lịch sử ==
[[Hình:Albrecht Dürer - Hare, 1502 - Google Art Project.jpg|nhỏ|phải|220px|''Thỏ con'', [[Albrecht Dürer]], màu nước, 1502]]
Màu nước đã xuất hiện từ rất lâu, có thể tìm thấy trên những bức [[bích họa]] trong hang đá từ thời kỳ đồ đá cũ ở Châu Âu cũng như trong những bản viết tay thời [[Ai Cập cổ đại]]. Tuy nhiên, phải đến tận thời [[Trung Cổ]] màu nước mới bắt đầu được phát triển và sử dụng rộng rãi. Nó chỉ thực sự trở thành một chất liệu cho hội họa vào thời kỳ [[Phục hưng]]. Họa sĩ [[người Đức]] thời [[Phục hưng]] [[Albrecht Dürer]] (1471–1528) có một vài bức tranh về cây cối, động vật hoang dã và phong cảnh bằng màu nước nên ông được coi như một trong những người đi tiên phong trong việc sử dụng kỹ thuật vẽ màu nước. Về sau, một ngôi trường chuyên dạy vẽ màu nước do họa sĩ [[Hans Bol]] (1534–1593) thành lập đóng một vai trò quan trọng trong phong trào [[Albrecht Dürer|Phục hưng Dürer]]
 
Vào thời đó, màu nước thường được các họa sĩ [[Baroque]] sử dụng chỉ để vẽ phác thảo, bản sao hoặc hình mẫu. Một số họa sĩ màu nước đầu tiên gây được sự chú ý là [[Van Dyck]] (trong thời gian ông ở Anh), [[Claude Lorrain]], [[Giovanni Benedetto Castiglione]] cùng với nhiều họa sĩ [[Hà Lan]] và [[vùng Flemish]]. Tuy nhiên màu nước chủ yếu dược dùng để vẽ tranh minh họa thực vật và động vật hoang dã. Minh họa thực vật trở nên phổ biến trong thời kỳ Phục hưng, cả loại hình minh họa khắc gỗ màu trong sách và loại hình vẽ mực trên giấy da. Họa sĩ vẽ minh họa thực vật là những họa sĩ màu nước vẽ chính xác và đẹp nhất. Minh họa động vật hoang dã đã đạt đến đỉnh cao của nó vào thế kỷ 19 với nhiều họa sĩ ví dụ như [[John James Audubon]], thậm chí đến tận ngày nay người ta vẫn cần các họa sĩ màu nước với những kỹ thuật điêu luyện của họ để minh họa các ấn phẩm khoa học và ấn phẩm của bảo tàng.
[[Hình:Penrith castle 18th-century.jpg|nhỏ|phải|220px|''Lâu đài Penrith'', một minh họa trong cuốn sách của William Gilpin]]
[[Hình:A View of the Archbishop's Palace, Lambeth.jpg|nhỏ|phải|220px|''Một góc cung điện Tổng giám mục ở Lambeth'', [[J. M. W. Turner]], màu nước, 267 x 381 mm, 1790 - ông vẽ bức tranh này khi mới 15 tuổi và được trưng bày tại triển lãm của [[Viện hàn lâm nghệ thuật hoàng gia Anh]]]]
Nhiều yếu tố đã góp phần vào sự phát triển rộng rãi của màu nước trong thế kỷ 18, đặc biệt là ở [[Anh]]. Trong các tầng lớp trí thức và quý tộc, biết vẽ màu nước là một trong những biểu hiện của một nền giáo dục tốt, đặc biệt là với phụ nữ. Trong khi đó, màu nước cũng được sử dụng phổ biến bởi những nhân viên [[trắc địa]], người vẽ [[bản đồ]], sĩ quan quân đội và kỹ sư bởi sự tiện lợi của nó trong mô tả tính chất, địa hình, địa chất công sự và để minh họa các công trình xây dựng trong dự án. Các họa sĩ màu nước đã trở nên nổi tiếng nhờ những cuộc thám hiểm địa chất hoặc [[khảo cổ học]] được tài trợ bởi ''Hiệp hội Dilettanti'' (thành lập năm 1733) để lập các tài liệu về những phát hiện mới ở [[Địa Trung Hải]], [[châu Á]] và [[Tân thế giới]]. Những chuyến đi này đã khơi dậy niềm đam mê của các họa sĩ vẽ địa hình, họ đã vẽ lại tất cả những địa điểm thăm quan nổi tiếng, ví dụ như trong chương trình du lịch [[Grand Tour]] đến Ý, một hành trình du lịch mà rất nhiều nhà quý tộc châu Âu thời đó (đặc biệt là người Anh) tham gia.
 
Cuối thế kỷ 18, một giáo sĩ người Anh là [[William Gilpin]] đã viết một seri các cuốn sách rất ăn khách mô tả những cuộc hành trình "đẹp như tranh vẽ" của mình trên khắp các vùng nông thôn nước Anh và tự minh họa với những bức tranh rất thơ mộng miêu tả những thung lũng với dòng sông, lâu đài cổ và nhà thờ hoang phế; những minh họa màu nước này là một hình thức sơ khai của sách chỉ dẫn du lịch cá nhân. Màu nước đã dần trở thành ''quốc họa'' tại Anh. Một số các nghệ sĩ màu nước nổi danh thời kỳ này là [[Thomas Gainsborough]], [[John Robert Cozens]], [[Francis Towne]], [[Michael Angelo Rooker]], [[William Pars]], [[Thomas Hearne]] và [[John Warwick Smith]].
=== Thế kỷ 20 ===
[[Hình:Egon Schiele 045.jpg|nhỏ|trái|220px|''Hai bé gái'', [[Egon Schiele]], 41 x 32 cm, chì và màu nước, 1911]]
Trong rất nhiều họa sĩ của thế kỷ 20 đã sáng tác những tác phẩm màu nước giá trị, phải nhắc tới [[Wassily Kandinsky]], [[Emil Nolde]], [[Paul Klee]], [[Egon Schiele]] và [[Raoul Dufy]].
 
Ở Mỹ, các họa sĩ màu nước chủ chốt là [[Charles Burchfield]], [[Edward Hopper]], [[Georgia O'Keeffe]], [[Charles Demuth]] và [[John Marin]], 80% các tác phẩm của họ dùng màu nước. Trong giai đoạn này tranh màu nước và tranh sơn dầu ở Mỹ thường mô phỏng [[trường phái Ấn tượng]] và [[trường phái hậu ấn tượng|Hậu ấn tượng]] của châu Âu, nhưng nhiều họa sĩ muốn phát triển mạnh phong cách Mỹ trong tranh màu nước từ những năm 1920 đến những năm 1940, đặc biệt là các trường dạy vẽ như "Cleveland school" hoặc "Ohio school" tập trung xung quanh [[Bảo tàng nghệ thuật Cleveland]], và các họa sĩ "California Scene", nhiều người trong số họ làm việc với xưởng phim hoạt hình ở [[Hollywood]] hoặc [[Học viện Nghệ thuật Chouinard]] (nay là [[Học viện nghệ thuật California]]). Những họa sĩ có ảnh hưởng nhất là [[Phil Dike]], [[Millard Sheets]], [[Rex Brandt]], [[Dong Kingman]] và [[Milford Zornes]]. ''Hội họa sĩ màu nước California'' , được thành lập vào năm 1921 và sau đó đổi tên thành [[Hiệp hội màu nước quốc gia]] đã tài trợ triển lãm những tác phẩm quan trọng của họ.
 
{{sơ khai hội họa}}
 
[[Thể loại: Hội họa]]
[[Thể loại: Chất liệu hộiHội họa]]
[[Thể loại:Chất Hộiliệu hội họa]]
5.681.853

lần sửa đổi