Khác biệt giữa các bản “Hoàng Trọng Phu”

n
không có tóm lược sửa đổi
n (Robot: Sửa đổi hướng)
n
'''Hoàng Trọng Phu''' (1872 - 1946) là quan [[nhà Nguyễn]] đầu [[thế kỷ 20|thế kỷ XX]], từng giữ chức vụ [[Tổng đốc]] [[Hà Đông]], [[Đại học sĩ|Võ Hiển điện Đại học sĩ]], hàm Thái tử [[Thiếu bảo]], Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn bản xứ Bắc kỳ.
 
==Quê quán, gia thế==
 
Ông quê ở làng Đông Thái (nay thuộc xã Tùng Ảnh), huyện [[La Sơn (định hướng)|La Sơn]] (nay là huyện Đức Thọ), tỉnh [[Hà Tĩnh]] trong gia đình quyền thế.
Ông là con trai thứ của Khâm sai Kinh lược Bắc kỳ [[Hoàng Cao Khải]], đại thần nhà Nguyễn thân Pháp. Các anh em con cháu của ông đều làm quan nhà Nguyễn.
 
Anh trai là [[Hoàng Mạnh Trí]], làm Tổng đốc [[Nam Định]], em trai ông Cử nhân Sen Hồ là cha vợ Luật sư [[Vũ Văn Mẫu]].
==Sự nghiệp quan trường==
 
Lúc mới về nước, vì có cha đang làm quan, nên ông chỉ làm thông ngôn cho vua [[Thành Thái]] ít tháng, rồi ra miền bắc làm Án sát [[Bắc Ninh]] năm 1897, Tổng đốc Ninh Thái (Bắc Ninh và Thái Nguyên)<ref>http://thuanthanh.gov.vn/lich-su-van-hoa/dia-diem-du-lich/chua-but-thap-gia-tri-tieu-bieu-ve-lich-su-va-nghe-thuat-18-1170.html</ref>.
 
=== Tổng đốc Hà Đông ===
 
Sau đó ông kế vị cha làm Tổng đốc Hà Đông năm 1906, lúc đó Hà Đông là tỉnh lớn và quan trọng ở [[Bắc Kỳ]] kề ngay sát [[Hà Nội]] ( trong mấy chục tỉnh miền bắc triều đình đặt chức Tổng đốc ở các tỉnh Hà Đông, Nam Định, Bắc Ninh, Thái bình, Hải Dương, còn các tỉnh khác chỉ đặt chức Tuần phủ). Phạm vi của tỉnh Hà Đông bao gồm Thị xã Hà Đông, các phủ [[Hoài Đức]],[[Ứng Hòa]],[[Mỹ Đức]],[[Thường Tín]], huyện Hoàn Long. So về diện tích thì tỉnh Hà Đông rộng gấp nhiều lần thành phố Hà nội.
 
Thời gian ông làm Tổng đốc Hà Đông trong hơn 20 năm. Trong gia đình ông có 3 người làm Tổng đốc Hà Đông thì ông là người nổi tiếng nhất.
=== Lập ấp Hà Đông tại Đà Lạt ===
 
Năm 1937 khi ông [[Trần Văn Lý]], Quản đạo [[Đà Lạt]] đề xuất di dân lập ấp tại Đà Lạt, ông đồng ý với việc trên và giao cho Thương tá canh nông Hà Đông Lê Văn Định (sau này ông Định giữ chức Chánh án Tòa án hỗn hợp Đà Lạt) thực hiện. Năm 1938 nhóm cư dân gốc Hà Đông đầu tiên gồm 35 người thuộc các làng chuyên trồng hoa Tây Tựu, Quảng Bá, Nghi Tàm, Ngọc Hà, Xuân Tảo, Vạn Phúc ven Hồ Tây được đưa lên tàu hỏa vào Đà lạt. Nhóm cư dân này hầu hết là những nông dân khỏe mạnh, quen nghề làm vườn, được huấn luyện thêm phương thức canh tác của châu Âu, được hỗ trợ vay tiền của Quỹ tương trợ. Ấp được đặt tên là Hà Đông để tưởng nhớ quê cũ.<ref>http://baolamdong.vn/dalatxuanay/201010/Nguoi-ap-Ha-dong-va-lich-su-nghe-hoa-da-Lat-2007389/</ref>
 
Diện tích đất khai phá ban đầu ở Ấp Hà Đông chỉ từ vài chục ha lên hàng trăm ha, bà con vừa xây dựng nhà cửa vừa trồng trọt các loại rau hoa mang từ Hà Nội vào. Từ năm 1941, ấp Hà Đông bắt đầu làm ăn phát đạt nhờ nghề trồng hoa và rau cải nầy. Cuối năm 1941, có tất cả 28 gia đình ở ấp Hà Đông, tổng số 100 nhân khẩu. Việc thành lập ấp Hà Đông tạo tiền đề cho hoạt động sản xuất trồng rau và hoa của Đà Lạt sau này <ref>http://www.adaly.net/dalat/histoire/</ref>.
==Hưu trí==
 
Năm 1937 ông về nghỉ hưu tại ấp Thái Hà, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông hay còn gọi là [[Ấp Hoàng Cao Khải]] và mất tại đây vào năm 1946, thọ 74 tuổi.
 
Mộ của ông và cha ông nằm trong khu quần thể [[Ấp Hoàng Cao Khải]] được xem là khu di tích lăng mộ độc đáo nhất Hà Nội.<ref>http://www.mili.vn/threads/lang-mo-da-hoang-cao-khai-noi-buon-giu-long-thu-do.1303//</ref>,<ref>http://kienthuc.net.vn/channel/3321/201004/Thai-Ha-Ap-gan-voi-Hoang-Cao-Khai-1749269/</ref>
5.681.853

lần sửa đổi