Khác biệt giữa các bản “Tôn hiệu”

* ''Pháp Thiên Long Vận Chí Thành Tiên Giác Thể Nguyên Lập Cực Phu Văn Phấn Vũ Khâm Minh Hiếu Từ Thần Thánh Thuần hoàng đế'' (法天隆運至誠先覺體元立極敷文奮武欽明孝慈神聖純皇帝) là tôn hiệu của [[Càn Long]]
* ''Hiếu Kính Thục Thánh Trang Thuần Nguyên Hóa Ý Liệt Trinh Mục Nhân Hiển Vương hậu'' (孝敬淑聖莊純元化懿烈貞穆仁顯王后) là tôn hiệu của [[Nhân Hiển Vương hậu]]
 
Tại [[Việt Nam]] thời [[nhà Trần]], các vua nhường ngôi cho con về làm Thái Thượng Hoàng, thường được đặt tôn hiệu có tên của vua Nghiêu, với ngụ ý truyền thuyết vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn là người tài. Cách đặt này ngoài ngụ ý so sánh Thái Thượng hoàng như vua Nghiêu, còn so sánh vua kế vị như vua Thuấn.
# [[Trần Thái Tông]], khi làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu Hiển '''Nghiêu'''.
# [[Trần Thánh Tông]], khi làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu Quang '''Nghiêu'''.
# [[Trần Nhân Tông]], khi làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu Hiến '''Nghiêu'''.
# [[Trần Anh Tông]], khi làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu Quảng '''Nghiêu'''.
# [[Trần Minh Tông]], khi làm Thái thượng hoàng có tôn hiệu Chương '''Nghiêu'''.
 
==Tôn hiệu không chính thức==
Tôn hiệu không chính thức, dĩ nhiên là được đặt ra một cách không chính thức bởi các sử gia, thường rất ngắn gọn (thường chỉ 2 chữ) và chỉ ra đặc điểm của vị quân chủ đó (Tiên chủ, Hậu chủ, Phế đế, Mạt đế...). Thường các sử gia dùng tôn hiệu không chính thức cho những triều đại ngắn ngủi hoặc những vị quân chủ thất thế, mà ở đó tôn hiệu chính thức hoặc niên hiệu, miếu hiệu đều không có hoặc ít phổ biến, như một sự tôn kính với một triều đại.