Khác biệt giữa các bản “Chính quyền liên bang Hoa Kỳ”

n
→‎Hành pháp: clean up, replaced: . → . using AWB
n (clean up, replaced: Chính quyền Hiệp Chúng Quốc → Chính phủ Hiệp Chúng Quốc, Chính quyền Liên bang → Chính phủ liên bang (8) using AWB)
n (→‎Hành pháp: clean up, replaced: . → . using AWB)
[[Phó Tổng thóng Hoa Kỳ|Phó Tổng thống]] là viên chức hành pháp đứng hàng thứ nhì trong chính quyền. Là nhân vật số một theo thứ tự kế nhiệm tổng thống, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ tổng thống trong trường hợp tổng thống qua đời, từ nhiệm hoặc bị bãi nhiệm. Cho đến nay đã có chín trường hợp phó tổng thống thay thế tổng thống theo thể thức kế nhiệm. Chức trách hiến định của phó tổng thống là phục vụ trong cương vị [[Phó Tổng thống Hoa Kỳ|Chủ tịch Thượng viện]] với quyền biểu quyết hầu phá thế bế tắc khi số phiếu của các thượng nghị sĩ rơi vào vị trí cân bằng, nhưng theo dòng thời gian phó tổng thống dần trở thành cố vấn chính cho tổng thống.
 
Tất cả quyền lực hành pháp trong Chính phủ liên bang đều được uỷ nhiệm cho tổng thống, như vậy các viên chức chính phủ phải chịu trách nhiệm trước tổng thống. Tổng thống và phó tổng thống được tuyển chọn theo thể thức liên danh bởi [[Cử tri đoàn]] đại diện cho các tiểu bang và [[Washington, D.C.|Đặc khu Columbia]], có số thành viên ngang bằng số ghế ở Thượng viện và Hạ viện cộng thêm các đại biểu của Washington, D. C. . Hiện nay, số thành viên của cử tri đoàn là 538 theo công thức 100 + 435 + 3. Như vậy, muốn chiếm được ghế tổng thống, một liên danh phải giành được 270 phiếu của cử tri đoàn.
 
Mối quan hệ giữa Tổng thống và [[Quốc hội Hoa Kỳ]] phản ảnh mối quan hệ giữa Vương quyền và [[Quốc hội Anh|Quốc hội Vương quốc Anh]] vào thời điểm hình thành [[Hiến pháp Hoa Kỳ]]. Quốc hội có quyền làm luật để hạn chế quyền hành pháp của tổng thống, ngay cả đối với quyền tư lệnh các lực lượng vũ trang của tổng thống mặc dù trường hợp này là hiếm hoi - một thí dụ là những giới hạn quốc hội đã áp đặt trên Tổng thống [[Richard Nixon]] khi ông ra lệnh oanh tạc [[Campuchia]] trong thời kỳ [[Chiến tranh Việt Nam]]. Dù tổng thống có quyền đệ trình các dự luật (như ngân sách liên bang), thường thì tổng thống phải dựa vào sự hỗ trợ của các nghị sĩ để vận động cho các dự luật. Sau khi các dự luật được thông qua ở hai viện Quốc hội, cần có chữ ký của tổng thống để trở thành luật, đó là lúc tổng thống có thể sử dụng quyền phủ quyết – dù không thường xuyên - để bác bỏ chúng. Quốc hội có thể vượt qua phủ quyết của tổng thống nếu có được đa số hai phần ba ở cả hai viện. Quyền lực tối hậu của quốc hội đối với tổng thống là quyền luận tội và bãi nhiệm tổng thống qua qui trình biểu quyết ở Hạ viện và xét xử ở Thượng viện (với đa số hai phần ba). Đã có sự phân hoá chính trị nghiêm trọng khi qui trình này được áp dụng cho các tổng thống [[Andrew Johnson]], [[Richard Nixon]] và [[Bill Clinton]].